1 câu chuyện ……

by Đặng Hoài Mỹ Trinh <http://www.facebook.com/ChicklitV>

Câu chuyện hơi dài nhưng thật sự rất rất cảm động, mọi người kiên nhẫn một
chút xíu nha !

*1. Mẹ ở quê lên*

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm
sóc bà những năm tuổi già.Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng
tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học.“Khổ
đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng
gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón
nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó.Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng,
không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi
giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: “Đi đón mẹ chúng ta thôi!”.

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có
thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi
khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh thường nhấc bổng tôi lên
đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh
phúc ấy làm tôi mê mẩn.Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không
thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau
này không nhịn được bảo: “Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào
có thể ăn được như cơm!”

Tôi cười: “Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”.Mẹ
chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: “Mẹ, người thành phố quen
thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!”.

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà vẫn
không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng.
Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu
tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn.
Chồng tôi véo mũi tôi nói: “Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có
phải đỡ hơn không?”.Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trôi những âm điệu
không êm đềm.Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với
bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời
đó?Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận
thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không
lời của bà.

Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng
ủ mình trong ổ chăn ấm áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy
nhất ấy, vì thế tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. Còn mẹ chồng
tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn
thêm.Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà
lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể, vì thế trong nhà chỗ nào cũng
toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà
mất mặt, tôi đành phải lén lút rửa lại lần nữa. Có một buổi tối, mẹ chồng
tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đóng cửa phòng đánh “sầm” một cái,
nằm bên trong khóc ầm ĩ.

Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi
nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: “Thế em rốt cục
đã làm sai cái gì nào?”.Anh trừng mắt nhìn tôi nói: “Em không chịu nhường mẹ
đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có chết đâu?”.Sau đó, cả một thời
gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình
gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết
nên làm vui lòng ai trước.Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa,
xung phong đảm nhận “trọng trách” này. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng
vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách
nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường
đi làm.Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: “Rodi, có phải em chê
mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở nhà?”. Lật mình, anh quay lưng
về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề.Cuối cùng,
chồng tôi thở dài: “Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng
được không?”. Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng.Sáng
đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ
dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào
ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo
bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy bổ vào toa-lét, nôn ọe
hết.Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc
than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa
toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố
ý.

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng
tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng
tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ.

*2. Những tháng ngày tăm tối*

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận,
tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì
tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy
ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một
đồng nghiệp bảo tôi: “Rodi, trông sắc mặt cậu xấu lắm, đi khám bác sĩ xem
nào”.Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì
sao tôi nôn ọe, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng
tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy?
Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi. Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi
đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh
rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì
nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết, trong mắt anh chỉ còn sự căm
thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương.Tôi tự nói với mình, không được nhìn anh
ấy, không được nhìn anh ấy, tôi đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó
tôi mong muốn làm sao được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp
sinh cho anh một đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc,
những cái tôi mơ ước không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm chậm
rơi xuống.Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ như thế này?
Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt
anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo.
Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước mắt của chồng tôi. Anh ấy đang
lấy tiền. Tôi lạnh lùng nhìn anh, không nói gì. Anh coi như không có tôi,
cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự.
Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười
nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống.Ngày hôm sau, tôi không đi làm.
Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho
rõ.

Đến công ty của chồng, thư ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: “Mẹ của tổng giám
đốc Trần bị tai nạn giao thông, đang trong viện”.Tôi há hốc mồm trợn mắt,
chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi.
Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại.Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng
bệch xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao
lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với
tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang một nỗi thù hận sâu sắc.Về vụ tai
nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi
mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh,
khi qua đường, một chiếc xe buýt đã đâm thẳng vào bà…Cuối cùng tôi đã hiểu
sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó tôi không nôn, nếu chúng tôi
không cãi nhau, nếu như… trong tim anh ấy, tôi chính là người gián tiếp gây
ra cái chết của mẹ anh.

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi
rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không
thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có
con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của anh, tôi lại nuốt hết đi những
lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn,
cho dù tất cả đã xảy ra không phải do tôi cố ý.Ngày lại ngày cứ thế trôi đi
trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ
lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi.Một lần, tôi đi qua
một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà
xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện một cô gái trẻ, anh
nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả.Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi
bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi
chẳng còn muốn nói gì, cũng không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn
chồng tôi, đứng lên định bỏ đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh
cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém.

Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp
từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ
thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi
sẽ cùng ngã.Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi
biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã
chết rồi.Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo
bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. Tôi không muốn gọi
điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh,
giờ cũng đã biến mất hoàn toàn.Tôi một mình sống, một mình đi bệnh viện khám
thai, mỗi lần thấy những người chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai,
trái tim tôi như vỡ tan ra. Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho
xong, nhưng tôi kiên quyết nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con
này ra, coi như một cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi. Khi tôi đi
làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng,
trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc qua, tôi đã biết tờ giấy viết
gì.Trong hai tháng chồng tôi không về nhà, tôi đã dần dần học được cách bình
tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ xuống, bảo: “Anh chờ chút, tôi ký!”. Chồng tôi cứ
nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi.Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn
mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước
mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác, cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái
bụng đã nổi lên của tôi. Tôi mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề
nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh.“Rodi, em có thai à?”.Từ sau
khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm
được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” tràn xuống má.Tôi đáp: “Vâng, nhưng không
sao đâu, anh có thể đi được rồi!”.

Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. Chồng tôi nằm ôm
lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã
mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể
với lại.Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi em!” với tôi bao nhiêu lần
rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm
được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt
lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi. Chúng
tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Phía tôi, là vô ý; còn anh,
là cố tình.

*3. Hận cũ hóa giải, nhưng quá khứ không bao giờ trở lại!*

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim
tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất
cứ món quà gì, không nói chuyện với anh. Bắt đầu từ lúc ký vào tờ giấy kia,
hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. Có hôm chồng tôi thử
quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ
ở phòng mẹ.Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ,
tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận
anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng
chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay ra tóm lấy tôi cười
ha hả. Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa
chúng tôi còn lại gì đâu?Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng để đón
ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó cho con, các đồ
dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả sách thiếu nhi, từng bọc
từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh.

Tôi biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm
thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà lạch
cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với tôi không
có ý nghĩa gì.

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ
sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ đón giây phút này
tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc đường nắm chặt bàn tay
tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi. Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy
vào phòng phụ sản. Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấm áp, một ý nghĩ hiện ra
trong đầu tôi: “Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?”.

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại
anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh
cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi,
anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười,
nhưng không thể mở được đôi mắt mệt mỏi… Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt
tôi không thể nào chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có
nỗi đau đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi.

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh
gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác sĩ phát hiện ung
thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: “Phải chuẩn bị hậu
sự đi!”.Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật máy
tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng tôi đã phát
hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ
đó là…Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại
cho con chúng tôi:

“Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới
được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ
có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con
suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì vui sướng biết bao, nhưng bố không
thể. Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải
trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý
kiến của bố…

Con ơi, viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một
đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất khổ, mẹ
là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…”.Từ khi đứa trẻ đi học mẫu
giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu
đương, anh đều viết hết.

Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư:

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ cho những
gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em bệnh tình, vì anh
muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con ra đời… Em yêu dấu, nếu
em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã
luôn yêu anh… Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho
con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều
đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…”.

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên
anh, tôi nói: “Anh mở mắt cười một cái nào, em muốn con mình ghi nhớ khoảnh
khắc ấm áp nằm trong lòng bố…”.Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười.
Thằng bé vẫn nằm trong lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn
nút chụp máy ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má…

” Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc!”

by Một bông hồng cho những ai không còn
mẹ<http://www.facebook.com/bonghongtangme>

Con thấy mình kém may mắn vì chỉ được làm con của mẹ 20 năm, còn nhiều thứ
con cần mẹ dạy lắm, nhưng mẹ đi rồi con phải cố học một mình thôi.

Chợt nhớ ra hôm nay là ngày 20 tháng 12 âm lịch, đáng lẽ ra mình phải nhớ
ngày này, nhưng mẹ ơi con xin lỗi, con không về nhà kịp để đi tảo mộ mẹ rồi.
Con cứ mãi loay hoay với mấy chồng sách vở cuối năm nên quên mất ngày này
năm trước, ba với mấy chị em con cùng nhau tảo mộ cho mẹ. Con biết con không
về ở nhà đã có ba và em lo, nhưng thấy mình đáng trách quá! Mẹ đừng giận con
nhe!

Đã 2 năm rồi con không được gặp mẹ, con nhớ mẹ nhiều lắm! Thỉnh thoảng đâu
đó trong giấc mơ con được gặp mẹ mấy lần nhưng mơ hồ quá mẹ ạ. Con biết nói
ra điều này mẹ nghe được sẽ không vui nhưng thật sự là từ ngày không có mẹ
tới giờ, dù nhà mình ai cũng cố gắng sống thật mạnh mẽ nhưng không ai sống
thật tốt cả. Cuộc sống như rẽ sang một con đường khác.

Mẹ ra đi để lại một khoảng trống quá lớn, để rồi mỗi khi nghe ai đó hát bài
“Bông hồng cài áo” con lại khóc một mình. Nhưng hãy cứ yên tâm đi mẹ, nhà
mình ai cũng biết suy nghĩ để làm sao đi đến cuối con đường đó thật trọn
vẹn, vì biết bên cạnh mình luôn luôn có mẹ mà.

Con thấy mình kém may mắn vì chỉ được làm con của mẹ 20 năm, còn nhiều thứ
con cần mẹ dạy lắm, nhưng mẹ đi rồi con phải cố học một mình thôi.

Con đã lớn lên bên mẹ từ những ngày cuộc sống gia đình mình còn rất cơ cực,
con phải một buổi đi học một buổi về nhà dệt chiếu với mẹ để có đồng ra đồng
vào. Xóm mình là xóm chiếu mà, rồi cũng từ ngày đó mỗi lần đi đâu xa về nhìn
thấy người ta phơi chiếu ngoài đường con lại nhớ mẹ vô cùng. Những ngày khó
khăn ấy bây giờ nhớ lại con không biết mẹ con mình đã vượt qua như thế nào
nữa, vất vả nhưng vui lắm đúng không mẹ. Con cám ơn mẹ đã dạy cho con giá
trị của cuộc sống trong những ngày tháng không thể nào quên được đó, muốn
sung sướng bản thân con phải biết nỗ lực.

Nhưng con vẫn là một đứa con bất hiếu mẹ à, con không ngoan như chị Hai nên
đôi khi con làm mẹ buồn, có lần đó con đã làm mẹ khóc. Chuyện đó, mỗi khi
nhớ lại, lòng con lại quặng đau, đau lắm mẹ ơi. Con xin lỗi!

Và con của mẹ bây giờ đã lớn, lớn hơn rất nhiều kể từ ngày con và mẹ xa
nhau. Bản thân con sẽ tiếp tục cố gắng, vì gia đình mình và vì bản thân con.
Con cám ơn những ngày tháng cần lao của ba mẹ đã nuôi chị em con khôn lớn.
Con yêu gia đình mình, đó sẽ mãi là điểm tựa vững chắc cho con và vì nơi đó
có mẹ.

Con đang ở đây, sắp tốt nghiệp đại học và ấp ủ một giấc mơ du học. Một điều
gì đó thật đẹp đang đến với con, nhưng con cũng thấy lo lắng lắm. Mà có sao
đâu, những lúc như thế con lại nghĩ đến mẹ, vì con biết ở bên kia thế giới
mẹ vẫn luôn dõi theo và ủng hộ con, đúng không mẹ.

Tết sắp đến rồi, cái tết thứ 2 nhà mình không có mẹ. Con mong ở nơi nào đó
trên thiên đường mẹ luôn được bình an!

Mẹ ơi! Rồi một ngày nào đó, con cũng sẽ có con. Con hy vọng mình sẽ là một
người mẹ tốt như mẹ vậy.

Con thương và nhớ mẹ nhiều lắm! Thân gửi mẹ của con và những ai đang còn mẹ!

*“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc !”*

*p/s : Coral (vnexpress)*

Nói với Việt Kiều

Tác Giả: Chung Mốc

Đàn bà con gái gì mà nói giữa chốn đông người “Tôi không có khe” (care);
“Vẫn còn ở chỗ cũ đây, chứ tôi đâu có mu (move)”.

*Tác giả Chung Mốc hiện đang cư trú tại Thủ Đức, Việt Nam, gửi bài qua một
thân hữu chuyển đến. Trước 1975, tại miền Nam, ông là một nhà giáo, một
huynh trưởng sáng giá. Bài viết của ông, như tựa đề, viết theo cách nhìn của
bà con quê nhà nhìn những Việt kiều Mỹ khi họ về thăm lại quê quán.*

*Ảnh minh họa*

Tháng Năm, nóng toé khói.

Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người
ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần, để thấy những
cái tưởng mất đi vĩnh viễn nay lại tìm gặp, cái xưa tầm thường nay trở nên
quí giá.

Tôi may mắn thường có dịp đón tiếp thân nhân cùng bạn bè về thăm nhà, nhận
thấy song song với nỗi vui mừng khi tái ngộ, còn có vài điều tưởng giữa
chúng ta, TA và TÂY tự điều chỉnh, để ngày sum họp niềm vui thêm trọn vẹn.

Tôi nhận thấy có mấy dạng Việt Kiều:

- Người giàu (Có lẽ là giàu thật) quan niệm đi 5 về 10, xênh xang áo gấm về
làng, họ hàng cũng được thơm lây. Hàng xóm có lòng đố kỵ cho là nổ : Hồi xưa
nghèo không có đôi dép mà đi, giờ tha đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, vô
nhà ai cũng không dám uống nước dù là nước trà; nước giếng, nước mưa thì chê
hôi. Họ đâu còn nhớ tới những ngày kinh tế mới, những ngày đi đào kinh thuỷ
lợi nghiêng nón múc một ít nước đục ngầu mà uống. Bây giờ cứ đòi vào nhà
hàng máy lạnh sang thiệt là sang để ăn uống cho an toàn khỏi sợ đau bụng,
nhưng nếu họ chịu quá bộ ra chỗ đang rửa chén tô, nơi nhà bếp đang lặt rau,
làm cá băm thịt, thì tưởng chưa có nơi nào mất vệ sinh hơn thế nữa !

Tôi lấy làm ngạc nhiên và hãnh diện khi người mình mới qua tới xứ người,
người lâu thì vài ba chục năm, người mới thì chỉ năm hay mười năm mà nay ai
cũng là bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng chủ tiệm, tiếng Tây tiếng Mỹ phun phèo phèo,
mà hình như không có ai làm thợ hết cả (?).

Nếu quả thực như thế thì Mỹ trắng Mỹ đen quá kém, nay họ lại phải xin đi làm
công cho người mình nhiều quá, chứ như ở VN mà mấy anh Campuchia qua đây lập
nghiệp, không chịu làm cu ly khuân vác từ đời cha tới đời con thì cũng còn
khuya mới ngóc đầu lên nổi.

Có người qua Mỹ đã lâu nhưng còn e ngại vì tài chánh eo hẹp chưa muốn về
thăm quê, vì ngoài tiền vé máy bay ra, còn tiền quà cáp, xe cộ tiêu xài.
Nhưng họ đâu biết rằng có tiền cho thân nhân đã quí, nhưng gặp lại người
thân sau bao nhiêu năm xa cách còn quí hơn nhiều lắm.

Vẫn biết rằng trong đám thân nhân “yêu vấu” kia thế nào cũng có người nói
xấu sau lưng: “Việt Kiều về quê mà Trùm Sò thế thì về làm quái gì”. Cũng may
số người này không nhiều.

- Người nghèo (Có thể là nghèo giả) than van quá trời vì sợ người nhà vòi
tiền, mà có người vòi tiền thật, mè nheo đủ thứ. Họ không chờ cho đến khi
gặp mặt mà thư, điện tới tấp khiến mẹ cha, anh em con cái phát chán, vì
người ta biết tiền gửi về sẽ bị tiêu pha một cách lãng nhách bởi những người
chuyên vô công rỗi nghề, từ sáng tới tối xách xe chạy vòng vòng.

Thái độ và cử chỉ bên TÂY thì lịch sự nhã nhặn, cưng chiều vợ con hết mức
(theo kiểu nịnh nghề bà lắm nạc) khiến phe TA ở quê nhà xốn con mắt lắm.
Nhưng khốn nỗi TA lại cộc cằn thô lỗ, gia trưởng y như xưa, y như cách đây
hàng thế kỷ. Hôm nay nhà có cơm khách, khách hỏi:

- Còn các cháu đâu, không ra dùng cơm luôn thể?

- Các bác cứ xơi tự nhiên, các cháu đã có rồi.

Các bác đang xơi, các cháu thập thò ở cửa, Bố quát:

- Xuống bếp ăn với mẹ!

Đứa con giơ tay lên trời:

- Xin thề là dưới bếp hết cả nước lẫn cái rồi bố ạ!!!

*

Bên TÂY gặp nhau ôm hôn chùn chụt, bên TA mà làm thế có ngày chả còn răng ăn
cháo. Hôm anh tôi về, thấy mấy trự Việt Kiều gặp người đi đón ở phi trường,
lợi dụng cơ hội ôm hôn tùm lum, ảnh nói có nhiều người làm trò khỉ quá.

Rồi sau đó ít hôm ảnh lại nói sao Việt Kiều về cứ phải chứng tỏ mình là Việt
Kiều cho oai, lúc nào cũng thấy đeo cái túi mề gà trước bụng, đàn ông lại
còn mang quần có dây đeo vai cứ như mấy anh bồi nhà hàng. Họ nói chuyện với
nhau hay với con cái cứ xổ tiếng Mỹ làm người nhà phải nghệt mặt ra. Mà làm
như thế nghĩ cũng chả ích lợi gì, chỉ tổ cho nhà hàng chém thẳng tay.

Việt Kiều thường phê bình người trong nước đổ đốn, không chịu làm gì cả chỉ
ăn nhậu. Nói của đáng tội, cái đó cũng có nhưng vì họ chưa có cơ hội tiếp
xúc với những Giám Đốc trẻ không rượu bia thuốc lá; có trách nhiệm, năng lực
và lòng tự trọng; những người thợ quần quật với công việc nặng nề; những
nông dân chân lấm tay bùn đã làm nên những thay đổi và ấm no hơn những ngày
cũ.

*

Việt kiều lớn đã thế còn Việt Kiều con, tụi nhỏ về đây gặp khí hậu, thời
tiết khác lạ, ăn ngủ trái múi giờ dễ sinh ra dị ứng ốm đau, làm ông bà cha
mẹ lo sốt vó.

Thái độ tụi nó cũng kỳ dị lắm, hình như nó không thích được nâng niu âu yếm,
đụng vào người là nó co rúm lại, mà người mình có thương thì mới rờ rẫm bóp
mông, bóp đít khen nó mập, trắng hồng coi dễ thương hết sức. Ban đầu tôi
tưởng tụi nó chê mình ở bẩn, nhưng sau này mới biết là làm vậy không nên,
nếu là ở Mỹ có thể bị kết tội child abuse gì đó.

Tụi nhỏ nói tiếng Việt không rành, nó ú ớ bảo là đau bụng, đưa thuốc cho
uống cả tiếng sau mới nói là nó “wrong”, nó bị đau cổ họng cơ. Có nhiều đứa
lý sự và phá trời thần, trẻ con VN mà nói tay đôi với người lớn thế thì có
mà nát đít, còn trẻ Việt Kiều nó được tự do tranh luận nếu nó nhận thấy
người lớn nói sai. Về VN mà nó làm cứ như ở nhà nó, cái máy quay phim, dàn
máy hát ở quê nhà quí lắm, dành dụm biết bao lâu mới mua được, nhưng con
cháu Việt Kiều về xài rồi nó quăng vất tứ tung, chọc ghẹo nhau chạy tới chạy
lui làm đổ dàn am-pli, cả nhà thấy xót quá mà không ai dám nói gì!

Nói sang cái ăn mới ngộ, đãi Việt Kiều ở nhà hàng, TA ép TÂY ăn thịt.

TÂY than thở: “Tại sao lại ép chúng tôi những thứ mà hàng ngày phải ăn mấy
chục năm nay?”

Không lẽ kêu măng luộc, rau đay cua rốc, cà pháo mắm tôm, rau muống xào đập
tỏi v.v…

Những thứ đó quê tôi có đầy ra, bước ra đàng sau vườn loáng một cái có cả
rổ, bây giờ thường để cho heo ăn mà thôi, ai nỡ lòng nào đem ra đãi Việt
Kiều.

Việt Kiều con thì khác hẳn, vào bàn nó ngồi im như tượng, mặt buồn như Đức
Mẹ Sầu Bi ngồi dưới chân thánh giá, hỏi ăn gì thì chỉ lắc đầu. Thấy mấy ông
kêu đồ nhậu rắn rùa, chim chuột … đặc sản, nó chỉ con thạch sùng (thằn
lằn) trên tường mà hỏi: “Con đó có ăn không ?”

Người lớn thích ăn tiết canh, mua con heo, con vịt về cắt tiết hay thọc
huyết, nhìn thấy cảnh đó nó kinh hãi ôm nhau khóc thét lên.

Còn về thịt cầy, nó dặn là đừng bao giờ đánh lừa nó ăn một miếng, bởi vì ăn
thịt chó, tim sẽ đau đớn như phạm tội vậy.

Về tới SG thả tụi nó vào khu siêu thị thì như cá gặp nước, tụi nó hoạt bát
hẳn lên, nói líu lo vì trong đó có bán đồ ăn khoái khẩu của nó.

Ở quê tôi còn có một thứ mà mỗi nhà có Việt Kiều về thăm thì phải lo trước,
đó là cái bàn cầu ngồi theo lối Mỹ, nhà cầu kiểu cũ trẻ con ngồi không quen
cứ ngã bổ chửng ra. Nhớ hồi cách đây hơn 10 năm, cầu cá dồ chưa bị cấm, có
ông Việt Kiều đang ngồi thì bị cầu sập, ông đứng giữa đìa khóc ầm lên kêu
Trời kêu Phật, kêu cả thánh quan thầy.

Một cái đáng sợ nữa cho Việt Kiều là muỗi. Xưa kia muỗi chỉ có mùa, bây giờ
nhờ kinh tế thị trường nên có quanh năm, nó lại theo trào lưu khủng bố của
thế giới nên không kêu vo ve nữa mà chuyên âm thầm đánh du kích, cắn xong
một phát là chỗ đó ngứa không chịu nổi. Đối với người trong nước không hiểu
vì đã chịu muỗi chích hoài nên cơ thể quen nọc ngứa, hay là tại vì thịt Việt
Kiều thơm (tắm bằng xà bông Dove), hay tại muỗi vẫn còn thù dai đối với Đế
Quốc, mà cho dù là ban ngày sáng sủa đàn muỗi không cắn ai, lại cứ xà quần
bên Việt Kiều như đàn trực thăng sắp đổ quân vậy.

Đi với Việt Kiều nhí thì thật là thê thảm, cho dù bôi thuốc chống muỗi rồi
đó, nhưng dính mũi nào là làm độc mũi đó, có khi mưng mủ sưng to như trái
chùm ruột. Tôi có đứa cháu kiên nhẫn ngồi đếm được 108 mụn trên một cái chân
nhỏ bé !!!

Còn trục trặc ngôn ngữ Việt giữa người trong và ngoài nước nữa chứ. Có nhiều
Việt Kiều nghe không hiểu được những từ ngữ “mới”. Hồi sau 75 tôi có dịp
tiếp xúc với cán bộ hay người miền Bắc mới vô, nghe họ nói tôi buồn cười lắm
mà không dám cười, sau đó nhái chơi, rồi dần dần nó ngấm vào giọng nói lúc
nào không hay, bây giờ có những chữ mà loay hoay mãi không nhớ ra chữ cũ để
thay thế.

Thí dụ: Hôm nay tôi tranh thủ đến thăm anh (cố gắng). TV hôm nay bị sự cố kỹ
thuật (trục trặc). Nhưng đến câu “Họ có mặt bằng cho thuê” thì tôi đành chịu
không tìm ra chữ nào để thay.

Có anh về nước cầm máy chụp hình hay quay phim thì thấy cái gì hơi lạ là bấm
máy liên hồi, thấy người ta nói đi xe khách chất lượng cao (high quality);
xe tham quan (tourist); cửa hàng chuyên bán ổn áp (survolter) là cười khinh
khỉnh, nhưng chúng tôi thấy họ nói pha tiếng Mỹ lại càng kỳ quái hơn: Đem
cái xe tới tiệm để estimate, anh thợ sửa xe dốt nát đâu biết tiếng Tây tiếng
U gì đâu, nghe vậy bèn tháo tung chiếc xe ra; bảo tun-ấp thì nghe giống như
“ốc” nên lấy đồ nghề ra siết tất cả những con ốc lại. Đàn bà con gái gì mà
nói giữa chốn đông người “Tôi không có khe” (care); “Vẫn còn ở chỗ cũ đây,
chứ tôi đâu có mu (move)”.

Cười, bởi vì khe và mu là những chữ dùng để chỉ cơ quan sinh dục của đàn bà.

Có lần được tháp tùng về thăm quê cũ của mẹ tôi ngoài Bắc, gặp đứa em họ
đang phụ trách một đoàn thể trong xứ đạo, nó hỏi xin cái máy kích. Tôi hỏi
cần đẩy hay kéo cái gì, nó giải thích thì ối giời ơi! đó là cái am-pli và
cặp loa để phát thanh, ở ngoài Bắc gọi là cái máy kích âm !!!

Bây giờ họ còn hay nói tắt. Hỏi gia đình thế nào? Trả lời dạo này gia đình
chúng em VẤT lắm (vất vả); Món này ăn ngon CỰC (cực kỳ); Thợ xây quát phu
hồ: “Lấy cho tao bao Xi (xi măng) !!!

Chữ “bị” ở thế thụ động (passive voice) lại được nói: “Ông ta hơi bị giỏi
đấy” ; Món này ăn hơi bị ngon v.v… Ban đầu tôi tưởng chỉ là cách dùng chữ
cho khôi hài, không ngờ có những nhà văn lớn dùng trong văn chương nghiêm
túc nữa đấy. Thật quái đản !!!

Hôm xem lậu cuốn băng Thuý Nga, thấy ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói xỏ người ở
nước ngoài hay nói chữ là, thay vì nói “Rất đẹp” thì lại nói “Rất là đẹp”.
Tôi thì tiếng Anh dốt nát, đành dịch ra là “Very is beautiful”!

Ngày xưa còn đi học mà làm luận văn xài chữ: thì, là, mà, bị v.v… lung
tung như kiểu này chắc thầy vã cho rách mép.

Ở VN bây giờ từ quan cho tới anh cùng đinh khố rách đều nghiện chữ “Nói
chung” cũng như mấy anh Việt Kiều hay dùng chữ “You know” vậy.

Hỏi thăm gia đình khoẻ không thì được trả lời: “Nói chung cũng tốt. Mẹ tôi
còn đang nằm bệnh viện còn vợ tôi thì mới chết tuần rồi”.

Hãy nghe đài BBC phỏng vấn mấy quan chức, hay đọc trong bản báo cáo của mỗi
cơ quan, đoàn thể, mỗi ngành không bao giờ thiếu chữ “Nói chung”:

- Tình hình chỗ nào cũng vậy, nói chung là tốt, nhưng trong đó còn có một
vài bộ phận yếu kém tồn tại …

Tôi tới thăm gia đình người bạn mới từ nước ngoài về, bố bảo con gọi mẹ ra
đây. Thằng con chạy vào trong hét toáng lên: “Momy, dady muốn momy bây giờ”.
Hồi lâu sau nó lại chạy ra bảo: “Momy đang rửa he”.

Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi mới hiểu là má nó đang gội đầu (hair).

Tháng rồi có mấy đứa cháu từ Úc về chơi, tôi dẫn đi ăn nghêu ở Ngã Sáu,
trong đĩa nghêu luộc chín há vỏ ra, có con thịt rớt ra ngoài chỉ còn cái vỏ
không, đứa bé cầm cái vỏ ngắm nghía một hồi rồi tặc lưỡi: “Không có ai”.

Ôi ngôn ngữ Việt của Việt Ta và Việt Tây sao mà rắc rối, biến hoá làm vậy!

Ngày vui qua mau rồi cũng đến ngày tiễn đưa người nhà ra phi trường. Người
còn ở VN khoái tiễn đưa lắm, lý do là lúc đó người đi rất ngậm ngùi, còn bao
nhiêu tiền trong túi cũng móc ra cho hết, thương lắm cơ.

Việt Kiều con ra tới phi trường thì mừng lắm, chúng nhảy cỡn lên múa máy tay
chân rồi la to:

- Thoát khỏi Việt Nam rồi! Thoát Việt Nam rồi!

Vậy thì tôi còn mong gì khi chúng lên, học hành thành tài rồi về giúp đỡ quê
hương?

SaiGon Ngày Ấy

Hoàng Lan Chi*
—oo0oo—

*Năm 54-60*

Ngày ấy tôi còn bé lắm, lênh đênh trên chuyến tàu cuối vao Nam theo cha mẹ
chứ chảng biết gì. Chuyến đi êm đềm không có gì đáng nói.

Tôi thấy người Pháp cũng đàng hoàng. Thì đâu chả thế, cũng có người này
người khác.

Người Pháp trên tàu tử tế-. Họ cho ăn uống đàng hoàng. À mà tôi hiểu tại sao
họ phải tốn đủ thứ để đưa người di cư vào Nam? Nếu họ cứ mặc kệ thì số phận
dân Bắc có đến miền Nam được dễ dàng không?

Đầu tiên chúng tôi cập bến Vũng Tàu, rồi xe đưa vào Saigon. Chúng tôi ở tạm
tại nhà hát sau náy được sửa thành tòa Quốc Hội. Mấy hôm sau thì phải tứ
tán. Chính phủ trợ cấp cho mỗi đầu người là bao nhiêu đó, tôi không nhớ vì
quá bé.

Rồi nơi tôi ỏ đầu tiên là Cây Quéo, đường Ngô Tùng Châu. Gia đình tôi là
ngươi Bắc đầu tiên đến đây. Sau này đọc truyện và biết con trai Bắc hay bị
con trai Nam “uýnh” và xỏ xiên “Bắc Kỳ ăn cá rô cây”. Nhưng gia đình tôi
hên, nơi xóm nhỏ, người Nam thật đôn hậu. Họ cư xử tử tế với chúng tôi. Đôi
khi tôi lẩn thẩn nghĩ: hay là vì gia đình tôi là nhà giáo, tinh thần tôn sư
trọng đạo đã ăn sâu vào giòng máu dân Việt. Họ rất tôn trọng và lễ phép với
cha mẹ tôi. Một điều thưa ông giáo, hai điều thưa bà giáo.

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều,
chăng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui, cứ tung tăng chân
sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt bướm. Ôi sao ngày đó Saigon nhiều hoa bướm thế?
Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt, đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong
nhà nào cung có vườn, cây cỏ xum xuê, bướm bay la đà .Những con bướm đủ màu
sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp,
nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng,
chúng như điểm xuyết cho bức hoạ hoa lá- Tôi thích nhìn bướm bay, tôi thích
ngắm hoa nở.

Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ. Dứng
nghiêm và hát quốc ca. “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…”. Ừ
thì thanh niên luôn được dạy dỗ phải đáp lời sông núi.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và đã ăn sâu mãi vào
trong tiềm thức. Đủ biết cách nói uốn cay khi chúng còn non là đúng. Tuổi
ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc: Không phá của công,
không xả rác ngoài đường, phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai
trên xe buýt, phải dắt em bé hay cụ già qua đường, phải ngả nón chào khi xe
tang đi qua.

Rồi những bài học thuộc lòng rất giản dị và dễ nhớ; “Công cha như núi thái
sơn, nghĩa mẹ v.v.”, những buổi sáng vừng hồng le lói, chiếu trên non sông
làng mạc ruộng đồng quê, chúng tôi ngồi im lặng lắng tai nghe, tiếng thầy
giảng trong suốt giờ quốc sử-sung sương quá giờ cuối cùng đã điểm, đàn chim
non hớn hở rủ nhau về, chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê.

Chúng tôi đã được dạy như thế đó và chúng tôi đã làm như thế đó. Ôi Saigon
của tôi. Bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi
ngả mũ chào người chết hay nép vào lề đương khi xe cấp cứu đi qua. Cuộc sống
lúc đó sao thanh bình quá. Không có những cướp bóc lớn lao, ăn cắp vặt cũng
không ghê gớm. Tôi còn nhớ phơi quần áo trước nhà rất an toàn, chẳng phải
trông chừng.

Tôi còn nhớ, ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rõ rệt, tôi còn nhớ cây
trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. Tình làng nghĩa xòm là tất cả. Khi
chia lối ngăn rào là xúc phạm..Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của
mình. Vào vươn Lái Thiêu cư tha hồ ăn, chỉ khi đem về mới phải trả tiền. Ôi
sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh bình đẹp đẽ quá! Có phải
là một phần nhỏ thiên đương hạ giới chăng?

Tôi nhớ nhiều về lễ quốc khánh đầu tiên năm 56 thì phải. Đúng là lễ hội.
Pháo hoa tưng bừng và người người ra đường trong hớn hở reo vui. Không giành
giật, không chen lấn. Saigon bấy giờ thênh thang lăm, Saigon bấy giờ chưa
đông đúc bon chen.

Ngày ấy các bà Bắc hay Trung đi chợ còn mặc áo dài. Lề thói xưa còn ăn trong
nếp ấy. Ra đường là phải lịch sự. Khi lễ lạc là phải mặc quần đen với áo dài
chứ không được quần trắng, vì như thế là thiếu lễ. Tôi còn nhớ một gia đình
trung lưu là đã có thể thuê người làm

Đa phần người làm là các cô gái miền Trung . Đúng là quê hương em nghèo lăm
ai ơi. Đất khô căn sỏi đá đã khiến bao cô gái quê vào miền Nam giúp việc
Thuở ấy người miền Nam hay dùng từ ở đợ còn người Bắc gọi là người làm. Các
chị người làm thường rất trung thành và lễ phép với chủ nhà. Các cô cậu con
chủ nhà cũng được tôn trọng. Bà chủ nhà thường ở nhà phụ với chi giúp việc
vì nhà nào cũng khá đông con. Ban đầu thì 2,3 sau thành 5, 6.

Tôi còn nhớ lương giáo sư đệ nhị cấp tức dạy từ lớp đệ tam đến đệ nhất của
cha tôi là 5.200$, vợ được 1.200$ và mỗi con là 800$ (không hạn chế số con).
Tô phở khá ngon là 5$. Coi như lương giáo sư là 1040 tô phở. Lương người
giúp việc là 300$ (bao ăn ở). Lương Bộ trưởng gấp 5 lần lương giáo sư, Còn
lương đại úy thì bằng lương giáo sư. Nếu bây giờ 7000$ tô phở bình dân thì
lương của giáo viên cấp ba phải là 7.000.000$.

Hồi đó chúng tôi thi 1 năm 2 kỳ gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Đề
thi hoàn toàn do giáo viên(tiểu học) hay giáo sư phụ trách ra đề.

Hồi đó không có nạn các giáo sư hay giáo viên kéo trò về nhà day kèm hay bán
đề thi. Đơn giản có lẽ vì đồng lương đã đủ sống nên họ không phải bán rẻ
lương tâm.

Cuối năm lớp nhất thì chúng tôi phải thi bằng tiểu học. Sau đó thi vào đệ
thất trường công . Ai rớt thì học trường tư. Tất nhiên phải học giỏi mới đậu
đưọc vào trường công danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương. Petrus Ký, Chu
văn An v.v. Những tháng ngày tiểu học với tôi là tung tăng chân sáo, là chơi
nhiều hơn học, là hái hoa bắt bướm, là nhảy lò cò, là chơi giải ranh, chơi ô
quan. Đúng 3 tháng hè là chơi thỏa thích. Ôi chơi chơi sao mà thú vị thế.
Còn thời tiểu học của con gái tôi, tôi thấy xót xa, học quá nhiều để có
thành tích cho thầy cô, cho trường lớp và con gái tôi không bao giờ biết đến
90 ngày vui sương ở đồng quê.

*Năm 60-67*

Đậu tiểu học xong tôi thi vào 2 trường Marie Curie và Gia Long. Lẽ ra phải
thi Trưng Vương mới đúng, nhưng không hiểu sao cha tôi quyết định vậy. Những
ngày đầu đi học ở Gia Long súng sính đầm. Lý do cha tôi định cho học Marie
Curie, nhung phút chót lại chuyển sang Gia Long.

Số tôi lại hên. Cô Bắc kỳ lạc lõng giũa rừng nữ sinh Nam Kỳ mà không bị chia
rẽ hay kỳ thị.

Như ngày xưa người dân Saigon đã cưu mang gia đình tôi ở Cây Quéo, từ thầy
cô đến bạn bè,chẳng ai thắc mắc vì sao tôi mặc đầm. Tôi học sinh ngữ Pháp
văn. Trường có 7 lớp Anh và 7 lớp Pháp. Tôi học lớp đệ thất 14, lớp chót.
Những năm đầu trung học tôi đi xe đưa rước của nhà trường. Thế là hết những
ngày chân sáo, hết những ngày đuổi bướm hái hoa, chỉ còn ngồi trong xe hiệu
đòan ngắm phố phường qua khung cửa sổ.

Xe trường đưa các nữ sinh buổi sáng về và trên đường đi rước các nữ sinh lớp
chiều. Trong khi chờ đợi xe đến đón, tôi thường cột áo dài và trèo lên cay
trứng cá trước nhà để hái trái nhâm nhi ăn chơi hay đem vào lớp cho bạn.
Nghe tiếng còi xe ngoài đường thì tuột xuống chạy ào ra. Nhà xa nên tôi bị
đón sớm và về muộn. Bây giờ nhớ lại thuở cột áo leo cây thấy vui vui. Giờ
chơi trong trường cũng cột áo để nhảy lò cò.

Trường Gia Long rất đẹp, cơ ngơi thật đồ sộ, 4 phía là 4 con đường. Ngày ấy
Chính Phủ đặt tên đường có chủ ý đàng hoàng, đặt theo từng vùng các danh
nhân văn võ. Không đặt lộn xộn lung tung. Gia Long của tôi được bao quanh
bởi những danh nhân văn chương như Bà Huyện Thanh Quan, Phan thanh Giản,
Đoàn thị Điểm và Ngô thời Nhiệm.

Chính giữa trường là con đường tráng nhựa rất đẹp và chúng tôi hay gọi đùa
là con đường Bonard. Giờ ra chơi các nữ sinh dắt tay nhau thơ thẩn trên con
đường ấy trông thật dễ thương.
Rồi gia đình tôi chuyển sang Vạn Kiếp. Trước nhà có 1 bụi tre và đối diện là
khoảng vườn mênh mông của chủ đất với những cây cau thẳng tắp . Năm 60 có
nghe tin về Mặt Trận Giải Phóng gì đó, nhưng tôi chẳng quan tâm…Thứ nhất
còn bé phải học hành, thứ hai mọi cái bấy giờ đã được chính phủ đưa vào nề
nếp và chiến tranh còn xa lắm.

Đó là thời điểm cực thịnh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Ngày đó chưa có truyền
hình, mới chỉ có truyền thanh. Chương trình khá phong phú. Tôi thích vừa làm
toán vừa làm toán vừa nghe nhạc. Cũng có chương trình tuyển lựa ca sỹ hàng
tuần nhưng phải nói đa số hát dở chứ không như các cuộc thi bây giờ thí sinh
hát khá vững. Báo chí nở rộ, ai có tiền thì ra báo. Không cần phải là nhười
của cơ quan chính quyền như bây giờ. Tôi mê xem báo, tôi đói tin tức. Ngày
đó có vụ thuê báo. Các em bán báo lẻ hay quày bán báo nếu bán không hết thì
cuối ngày có thể trả lại tòa soạn.

Vì thế 1 số quầy báo có sáng kiến cho thuê báo. Người đọc thuê chỉ trả tiền
chừng phân nửa. Tất nhiên tiền đó chui vào túi chủ quầy báo và người bị
thiệt hại là chủ nhân tờ báo. Coi như tốn tiền 1 mà được xem 2 báo. Báo
thiếu nhi hơi ít. Báo chí đối lập được tự do hoạt động. Do đó có gì xấu xa
của chế độ hay chính quyền thì những tờ báo đó vạch ra ngay. Còn những tờ
thân chính phủ thi báo đối lập gọi là nâng bi…

Sách thì rất nhiều, đủ các loại. Mỗi nhà xuất bản có nét đặc thù riêng.

Như nói đến Lá Bối là biết ngay các loại sách về thiền, Phật…Văn sĩ thì nở
rộ, tất nhiên cũng chia làm nhiều loại. Có những văn sĩ chuyên viết tiểu
thuyết tâm lý xã hội, được các bà nôi trợ và các tiểu thương ái mộ như bà
Tùng Long.

Có nhũng nữ văn sĩ viết khá bạo như Nguyễn thị Hoàng với cuốn truyện nổi
đình đám VÒNG TAY HỌC TRÒ. Nội dung truyện viết về chuyện tình của 1 cô giáo
với học trò bằng 1 giọng văn khó hiểu (theo thiển ý của tôi). Có những văn
sĩ miền Bắc viết chuyện trong thời gian họ đi kháng chiến chống Pháp rất hay
nhu Doãn Quốc Sỹ. Thời Ấy thi sĩ cũng nhiều như Đinh Hùng, Vũ hoàng Chương,
Du tử Lê, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Hoàng anh Tuấn, Mường Mán.

Thơ văn Sagon hồi ấy như trăm hoa đua nở và tự do sáng tác theo cảm hứng,
không phải viết theo khuân mẫu nào, do đó rất phong phú. Nhưng tôi lại thích
đọc sách phóng tác hay dịch (vì chưa đủ trình độ đọc nguyên tác).

Mỗi lần hè về là tôi mê mẩn ngốn hàng tá truyện.

Vật gía có lên nhưng chỉ chút đỉnh…Cũng chỉ mình cha đi làm còn mẹ ở nhà
chăm lo cho con cái. Thủa tiểu học thì mẹ tôi kèm tất cả các môn. Lên Trung
học thì bà không dạy được các môn khoa học, nhưng Pháp văn thì vẫn tiếp tục
cho đến Tú Tài vì ngày xưa mẹ tôi có bằng Certificate gì đó.
Cuộc sống êm đềm và thanh bình cho đến năm 61 thì không còn nữa. Đường đi
thường xuyên bị đắp mô. Quốc lọ và tỉnh lộ thì nhiều hơn. Địa phương quân
mỗi sáng sớm phải đi phá mô. Xong xuôi thì dân chúng mới dám đi lại. Đã có
những mô nổ tung và cả chuyến xe đò tan tác. Rồi các năm sau là những lần nổ
ở vũ trường nơi quân Mỹ thường lui tới. Tất nhiên dân thường cũng vạ lây.

Tôi vẫn ngoan ngoãn với sách đèn. Chẳng hề giao du bạn trai vì cha mẹ cấm.
Ngày ấy Gia Long và Trưng Vương là 2 trường nữ nổi tiếng nhất. Hàng năm chỉ
có 1 kỳ thi chọn học sinh giỏi Trung Học tòan quốc. Lẽ dĩ nhiên số đậu rơi
vào 4 trường lớn. Còn lễ Hai Bà Trưng được tổ chức khá lớn và 2 người đẹp
Gia Long, Trưng Vương đóng vai hai bà ngồi voi diễn hành (bây giờ ở Việt Nam
dùng từ diễu hành?? Tôi không hiểu vì sao lại diễu hành thay cho diễn hành.

Đề thi của mỗi môn cũng vẫn do giáo sư môn đó phụ trách. Tôi thấy như vậy mà
hay. Chẳng có gì lộn xộn xảy ra vì thời ấy không có nạn cha mẹ hối lộ thầy
cô. Mãi năm tôi học đệ nhất thì thi chung toàn khối và đã có rắc rối xảy ra.
Chăng hạn đề thi triết đệ nhất lục cá nguyệt là của cô Lan dạy chúng tôi thì
lớp chúng tôi làm được, còn lớp khác thì không…

Nhiều bạn sau khi có bằng Trung Học thì đi làm, có thể làm thư ký. Sau Tú
Tài 1 rụng 1 số bạn. Sau Tú Tài 2 rụng 1 số. Số học giỏi và có điều kiện thì
tiếp tục con đường đại học. Đề thi đại học do các trường tự phụ trách. Ngày
thi lệch nhau. Trường nào cũng công bố danh sách đậu chính thức và dự bị.
Dơn giản vậy thôi. Nhưng có lẽ hồi đó hối lộ bán đề thi không kinh khủng như
bây giờ.

Lại cũng do vấn đề tiền lương. Khi đồng lương không đủ sống thì nhân cách
con người cũng suy giảm theo. Đường phố Sagon những năm 63 vẫn còn xe
mobylette và dễ thương và ngộ nghĩnh là xe veo solex. Chiếc xe xinh xắn
nhưng có cái bầu to phía trước . Nữ sinh thường đi xe này. Khi chạy xe tà áo
dài phía sau phồng lên trông rất vui. Nhưng đa số học sinh vẫn đi xe đạp. Xe
máy rất ít và vì thế đường phố Sagon vẫn khá thênh thang.
Năm đệ tam thì tôi không đi xe đưa rước nữa mà đi xe đạp.

Cũng khá xa mà sao hồi đó tôi không thấy gì, chả như bây giờ sân trường cứ
tràn ngập xe máy mà lại còn xe phân khối lớn.

Năm tôi học đệ tứ thì xảy ra vụ Phật Giáo. Sau đó nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp
đổ. Tôi không ghét ông Diệm nhưng tôi ghét bà Nhu, vì tính tình xấc xược của
bà ta. Dù ông Nhu có lập đảng Cần Lao nhưng không ép buộc lộ liễu. Họ cũng
gợi ý nhưng không vào thì thôi. Cũng chẳng vì thế mà bị đì sói trán. Hay
trong ngành giáo dục của cha tôi, người ta không trắng trợn!!! Tôi chỉ biết
học giỏi là được học bổng, không bị phân chia lý lịch gì cả.

Sau 63, các trường có ban đại diện. Ngày đó tôi không chú ý lắm các thành
phần ứng cử. Nhưng sau này các anh chị lớn nói rằng sinh viên giỏi thường bù
đầu với việc học, ít tham gia các hoạt động trên. Do đó CS cài người vào nằm
vùng ở hầu hết các ban đại diện. Họ được huấn luyện kỹ nên ăn nói hoạt bát.
Còn sinh viên giỏi thì không có thì giơ luyện khoa ăn nói.

Saigon của tôi sau nhưng ngày đấu tranh sôi nổi, sau những biểu tình, sau vụ
tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức lại êm ả trở lại. Nhưng không như
xưa vì liên tiếp các đột biến chính trị. Cuộc chỉnh lý của Tướng Nguyễn
Khánh, rồi chẳng bao lâu đến phiên của tướng Thiệu và tướng Kỳ.

Tôi chỉ biết học và không chú ý đến những việc khác. Liên tiếp 2 năm thi Tú
tài 1 và 2 đã ngốn hết cả quỹ thời gian. Nhưng tôi nhớ Tú tài 1 chương trình
đã bị cắt giảm vì chiến tranh. Cũng từ 65 quân Mỹ đổ vào đông và đã gây xáo
trộn. Lính Mỹ lấy vợ Việt. Đa số là các cô gái nhảy, thời đó gọi là ca ve
hay cả các cô xuất thân là ngưòi giúp việc. Me Mỹ là tên dân chúng gọi các
cô này. Nội cái tên gọi đã nói lên sự khinh rẻ của dân chúng giành cho các
cô gái ấy. Nghĩ cũng đáng thương. Nhưng cũng chính những đồng dô la xanh mà
các cô me Mỹ tiêu vô tội vạ đã làm vật giá Saigon tăng cao..

Gọi là đô la xanh vì lúc ấy chính quyền Mỹ in riêng 1 loại đô la cho quân Mỹ
dùng ở Vn. Người làm của chúng tôi lấy Mỹ và đổi đời. Cuộc sống của giới
trung lưu bắt đầu lao đao. Giáo sư nào dạy tư thêm thì còn đỡ. Gia đình tôi
hạn chế mọi chi tiêu vì cha không dạy tư và yêu cầu mẹ ở nhà săn sóc việc
học cho các con. Ai có thì giờ gởi thư tình tự? Ai có lúc lang thang quán ăn
hàng? Còn tôi thì không, cắm đầu cắm cổ học. Đi học là về nhà ngay. Ngày đó
chị tôi và tôi đều học Gia Long nên không có bạn trai nào dám đến nhà.

Tôi thích con gái đi học bằng xe đạp và nón lá nghiêng nghiêng. Từng vòng xe
quay chầm chậm nhỏ bé. Áo dài ngày đó mặc rất kín đáo. Chúng tôi bắt buộc
phải có áo lá bên trong và các bà giám thị luôn luôn coi chừng nhắc nhở
những người mặc áo quá chít eo, những nàng khua giầy cao lộp cọp. Chúng tôi
đi sandal. Rất dễ thương. Tôi không thích học trò quá điệu, áo thật eo hay
guốc cao. Mà thật kỳ, đa số các cô điệu thường học kém và hay có bồ sớm. Các
cô giỏi thì ngược lại. Nhưng cũng có cá biệt. Tôi còn nhớ ngày dó cô bạn Kim
Dung rất xinh học giỏi được chọn làm Tây Thi trong vở kịch cuối năm… Chẳng
điệu gì cả. Riêng lớp tôi thỉ chỉ có vài chị điệu và tất nhiên học dở, có bồ
sớm. Năm tôi thi Tú Tài, chỉ còn viết và bỏ vấn đáp . Chứ trước kia 1 số môn
phải thi viết và vấn đáp. Tôi đậu Tú Tài cao và được trường thưởng 2 chữ Gia
Long quyện vào nhau bằng vàng 18. Những năm sau đổi lai là Hoa Mai Vàng.

Đó cũng là phù hiệu của Gia Long. Tôi mê y khoa và ghét dược. Tôi thích là
bác sỹ để chữa bệnh cho trẻ con và tự nhủ sẽ chữa miễn phí cho em nào mắc
bệnh uốn ván. Tất cả chỉ vì tôi mất đứa em vì bệnh này…

Còn dược khoa? Chẳng hiểu sao tôi ghét nữa .Tôi nói rằng học dược, ra bán
thuốc, ngồi đếm từng đồng xu leng keng. Chính vì thế mà sau này có 1 dược sĩ
Đại Úy theo, tôi đặt tên anh ta là Đại Úy leng keng.

Nhưng nghề chọn người chứ người không chọn được nghề. Tôi thi rớt dù học
giỏi. Năm đó đề thi y khoa bắt đầu có câu hỏi tổng quát về những kiến thức
xã hội chung quanh. Tôi học chăm quá nên vào phòng thi bị đuối sức, quỵ ngã.

*Năm 67-71*

Tôi ghi danh khoa học, chứng chỉ Lý Hóa Vạn Vật SPCN. Nơi đây qui tụ nhiều
người đẹp nhất Khoa Học, vì sinh viên xuất thân ban A. Còn chứng chỉ MGP hay
MGB thì ít con gái hơn.

Chương trình học khá nặng. Buổi sáng thực tập đủ 5 môn và chiều học lý
thuyết. Tôi thích thực tập vật hơn các môn kia. Cắt ngang hoa dâm bụt hay lá
gì đó xem được cấu trúc của nó dưới kính hiển vi rất đẹp..Tôi không thích
thực tập địa chất. Toàn những mẫu đá vô tri.

Tôi cũng không thích lý với những bài dây điện loằng ngoằng. Thực tập động
vật tuy sợ nhung cũng thích. Mổ con vật ra và xem cơ thể bên trong rất thú
vị. Chính ở đây là những mảnh tình trong sân trường đại học, vì có cơ hội
tiếp xúc bạn trai, chứ những ngày Gia Long hết đi xe hiệu đoàn đến xe đạp và
học quá chừng đâu chú ý đến ai.

Năm đầu tiên đại hoc, tôi chứng kiến tết Mậu Thân. Sáng sớm nghe nổ mà ngỡ
tiếng pháo. Khi nghe tin Saigon bị tấn công, tôi bàng hoàng. Trời! Thủ đô!

Mấy ngày sau từ nhà nhìn về phía Gò Vấp thấy trực thăng thả rocket từng
chùm…Lần đầu tiên cô bé nữ sinh chứng kiến tận mắt chiến tranh dù chỉ là
phần nhỏ. Thực ra trước đó những quán bar bị đặt mìn nổ , xác người tung
tóe..

Ngày đó chúng tôi mặc áo dài đi học, thỉnh thỏang có cô mặc áo đầm và không
ai mặc tây cả. Nên sân trường tung bay bao tà áo muôn màu muôn sắc. Cha mẹ
khó nên tôi vẫn đơn giản áo dài trăng ôm cặp như thủa Gia Long.

Thỉnh thỏang mới áo màu. Vì vậy khi tôi mặc áo màu, các bạn thấy lạ..Chiều
thư 7, tôi thường cùng cô bạn lang thang đường phố Saigon để ăn hàng và ngắm
phố phường.

Hồi đó không khí chưa ô nhiễm nên con gái Saigon tuổi 14-20 trông rất đẹp .
Đẹp tự nhiên ở đôi mắt đen láy, nước da đỏ hông. Có cô má đỏ au như con gái
Đà Lạt. Tôi thích người đẹp nên hay ngắm con gái Saigon trên phố. Tuổi học
trò thích nhất là lang thang phố phường và ăn hàng. Đi học cũng thích thầy
bịnh để được nghỉ rồi rủ nhau ra quán tán dóc .Thật ra bọn con gái chúng tôi
siêng học nên thích vậy chứ 1 số ông con trai rất ít đến giảng đường.

Mấy ông đó chỉ đi thực tập vì có điểm danh. Vả lại không đi thì không biết
làm! Còn lý thuyết thì lâu lâu đáo vô 1 chút, cuối năm bắt đầu tụng. Tất
nhiên cour đâu bằng bài giảng của thầy, thế là các ông tướng này đi theo năn
nỉ mấy cô như tôi mượn tập…

Đời sống đắt đỏ, vật giá leo thang hoài. Chiến tranh cũng vậy. Nhìn trước
nhìn sau, đâu cũng có người đi lính và chết . Có năm sinh viên phản đối
chính quyền, đã vô xé bài không cho chúng tôi thi. Sau này điểm danh lại thì
trời ơi, mấy tay kích động, phá hoại đó toàn là dân nằm vùng.

Tôi bắt đầu gửi báo đăng bài từ năm đệ tứ. Đăng và dấu nhẹm không dám cho
gia đình biết. Hai năm sau thì bận thi Tú Tài nên ngưng.

Khi lên năm thứ 2 đại học tôi lai rai viết lại. Thuở đó báo có số phát hành
nhiều nhất là tờ CHÍNH LUẬN. Thiên hạ đổ xô đăng quảng cáo ở đây rất nhiều.
Báo có mục Nói Hay Đừng. Nội dung là viết linh tinh đủ vấn đề nhưng khuynh
hướng là chỉ trích những việc đáng chỉ trích. Tôi lấy bút hiệu là Quỳnh
Couteau. Tôi còn nhớ có mấy cây bút sinh viên của mục này: Quỳnh Couteau của
Khoa Học, Thảo Gàn của Nha Khoa, Thu Hippy dường như Văn Khoa..Tôi viết
truyện tình cho báo Tiếng Vang. Tôi có thói quen mua từng ram giấy pelure đủ
màu và viết trên đó. Tương đối tôi viết khá dễ dàng. Đặt bút là viết. Hiếm
khi sửa lại hay bôi xóa. Để bài mình được đăng nhiều và liên tiếp, tôi lấy
khá nhiều bút hiệu. Nhưng tôi biết nhà văn Thanh Nam, ngưòi phụ trách trang
đó biết là cùng 1 người, vì cùng 1 nét chữ, cùng cách sử dụng giấy pelure
hồng, vàng. Tiếng Vang gởi nhuận bút 500$/bài, Chính Luận thì cao hơn
800$/bài.

Sau này tôi lai rai nhảy qua Sóng Thần của Chu Tử..Tôi nhớ dường như sau 1
năm tôi có bật mí trong 1 truyện, các bút hiệu 1,2,3,4 đều chỉ là 1 người!
Có điều là…các độc giả cũng ái mộ, gửi thư đến tòa soạn xin làm quen. Vui
hơn nữa là khi tôi đến tòa soạn lãnh nhuận bút gặp cô con gái chủ nhiệm Quốc
Phong, cô này lúc đó thay thế nhà văn Thanh Nam phụ trách trang truyện tình
của bạn. Không biết sao chỉ gặp lần đầu, nhìn xa xa mà cô rất thích tôi. Hôm
sau xuất hiện trên báo giòng nhắn tin của cô “PQ, hôm qua PQ đến mà chị
không dám ra nói chuyện vì đang đau mắt, nhưng thấy PQ xinh quá, giọng Bắc
thật dễ thương”.

Giời ạ, sau dòng nhắn của cô thì thư của độc giả ái mộ gửi tới quá xá luôn.
Tất nhiên tôi vẫn dấu nhẹm mọi người trong gia đình, nếu không bố tôi cho ăn
chổi chà về tội không học, lo viết truyện đăng báo.

Thực ra tôi vẫn chăm học. Viết truyện tình ngắn với tôi dễ ẹt, chỉ mất 1giờ
mà lại có 500 hay 800 để đãi bạn ăn hàng thì cũng thú vị. Tiếc là sau này
Tiếng Vang tự đình bản và tôi quay qua viết cho Sóng Thần hay Đàm Luận. Hồi
đó sinh viên chúng tôi hay ra thư viện để học. Thư viện Khoa Học thì nhỏ,
muốn có chỗ phải đi sớm. Chỉ có tiện là ngay trong trường…Còn thư viện đẹp
là của Vạn Hạnh, nhưng tôi ít đến vì xa nhà. Hai thư viện gần là thư viện
Văn Hóa Đức và Hội Việt Mỹ.

Thư viện Văn Hóa Đức nằm trên đường Phan Đình Phùng, nhỏ thôi, có máy lạnh.
Nhưng tệ hại là không có người giữ xe. Xe cứ khóa để trong sân. Thư viện lại
ở trên lầu. Và tại đây tôi có những kỷ niệm vừa vui vừa buồn, những kỷ niệm
nho nhỏ.

Thu viện bé nên chỉ 1 thời gian, những sinh viên hay lui tới đều biết mặt
nhau. Tôi còn nhớ có 1 sinh viên gìa nhất, rất lập dị. Anh để hàm râu dài và
xồm xoàm. Nghe nói anh đang học luật. Gặp tôi vài lần ở cầu thang, mỉm cười
với nhau thế là quen. Có lần tôi ngồi học và có cảm tưởng…tôi nhìn sang và
thấy anh ở bên kia đang vẽ ký họa tôi. Khi ra về, anh đưa và nói “Hôm nay
anh thấy em dễ thương lắm, em đã lấy mất của anh 1 buổi học vì vẽ em. Có khi
anh bảo tôi khi nào em lấy chồng nhớ báo cho anh nhé, anh sẽ mừng gì? một tạ
muối, kỳ vậy, cho tình nghĩa vợ chồng em đậm đà như muối. T bạn cùng Khoa
Học cũng hay đến đây. T đến vì tôi chứ không vì thư viện vì nhà T xa. Lắm
lúc cũng chẳng học, vẽ lăng quăng mấy câu nho nhỏ gì đó cho tôi.

Rồi tôi bị mất xe ở đây. Hôm đó tự nhiên thấy người rất khoẻ và sáng suốt.
Tôi say mê học. Thư viện về hết, chỉ còn mình tôi.

Khi xuống thì chẳng thấy honda, chiếc honda mới toanh do gia đình mới mua
gía 72.000$ (lương giáo sư lúc đó 23.000$). Tôi hoảng hốt xuống phòng bảo vệ
hỏi rất ngây thơ :

- Bác có thấy xe cháu đâu không?

Bác cưòi:

- Không, chắc lại bị ăn cắp rồi.

Tôi tái mặt. Bác nói tôi đi khai báo. Tôi đi bộ dến bót Cảnh Sát trên đường
Mạc Đĩnh Chi gần đó. Lão Cảnh Sát thấy ghét. Lão ghi chép xong lời khai rồi
cười:

-Thế cô có biết ai lấy xe của cô không?

Tôi đi bộ từ đó về nhà ở Gia Định. Thấy con về không có xe, cha mẹ hỏi. Mếu
máo. Bố mắng tơi bời, mẹ thì không.

Tôi nằm trên gác khóc suốt. Sao người ta ác thế? Sao ăn cắp xe của tôi? Khóa
rồi mà! Ngày đó tôi ngây thơ và gà tồ kinh khũng. T Không thấy tôi đi học
hay đến thư viện văn hóa Đức…

T tìm đến nhà. Thấy mắt sưng T hỏi. Rồi thì T nói sẽ đi hỏi cho LC. Tôi quen
tên đầu đảng, trùm ăn cắp xe ỡ vùng..Tôi tròn mắt: T, anh chàng đẹp trai,
thông minh, đàn hay vẽ giỏi quen trùm du đãng!!!.

Thấy tôi tròn mắt T chỉ cười. Hôm sau T quay lại “bạn tôi không tìm được vì
không phải vùng nó kiểm soát”, tụi nó rã xe nhanh lắm. Tôi nghỉ học mấy bữa,
T lại tìm đến. LC à, LC lấy xe PC của tôi đi học đi, tôi còn cái mini vespa
mà! Tôi đỏ mặt. T là vậy, muốn nói gì là nói, chẳng ngán ai.

Còn Hội Việt Mỹ thì thư viện to và đẹp. Đa phần tôi viết truyện tình đăng
báo ở đây. Nhớ lại cũng vui. Khi đăng báo, tôi cắt va đem vào trường cho bạn
xem. Bạn gái xem thì ít ( nhỏ Mai không có tâm hồn văn chương ) nhưng T xem
thì nhiều. Có khi ngang đến độ bỏ giờ học ngồi trước thềm cửa lớp để xem
truyện của tôi. Văn vẫn vậy nhưng cuộc đời thời không vậy. Bao nổi trôi sóng
gió cho cô nhỏ đã từng được 1 số người ở Khoa Học gọi là người có đôi mắt
đẹp nhất phòng Hoá.

Tình hình chiến sự leo thang.

Tôi nhớ những sự kiện đặc biệt:

Vụ đầu cơ gạo của thương buôn Tàu và tướng Kỳ đã chơi ngon ra lệnh xử tử Tạ
Vinh. Ông tướng này thuộc loại võ biền ruột để ngoài da, phát biểu như cao
bồi Texas. Chẳng biết sau này Tạ Vinh có bị xử tử hay không nhung lập tức vụ
gạo được bình ổn.

Năm nào đó tôi tẩy chay không đi bầu khi tướng Thiệu độc cử. Vật gía càng
leo thang. Thì như đã nói, quân Mỹ xài phung phí, me Mỹ xài vung vít, chỉ
còn giới trung lưu như giáo chức là khốn đốn.

Tôi vẫn sống trong tháp ngà. Chiến tranh có làm suy tư thì chỉ trong phút
chốc. Việc học cuốn hút và những ngày thứ bảy cuối tuần vẫn vi vút dạo phố
Saigon ăn quà. Tuổi học trò thích nhất là ăn hàng. Tiền bố phát hàng tuần eo
hẹp lắm, vì nhà giáo mà, nên tôi đã bổ sung ngân quỹ ăn hàng bằng các bài
viết cho Tiếng Vang, Sống, Chính Luận.

Thời tiết Saigon ngày ấy không như bây giờ. Vì tôi nhớ đi học phải mặc áo
dài suốt ngày. Nhà xa, sáng học thực tập, trưa ở lại và chiều học lý thuyết.
Có lẽ ảnh hưởng chung thời tiết toàn thế giới và cũng vì Saigon không quá
đông như bây giờ. Mấy cô bạn Gia Long cũ, bỏ đi làm từ khi đậu Tú Tài thì có
cô vô ngân hàng lương rất cao, cô thì làm cho hãng Pháp, lương coi như
khỏang 1 lượng vàng 1 tháng. Lương Chuẩn Úy gần 1 lượng.

Quân nhân được mua hàng rẻ gọi là quân tiếp vụ. Đa số mua xong đem ra ngoài
bán lại cho con buôn. Hồi đó có phong trào làm cho sở Mỹ vì lương rất cao.
Thanh niên, sinh viên lai rai biểu tình Cư biểu tình. Cảnh Sát biết hết ai
là ham vui ,ai là CS nằm vùng. Tôi chưa bao giờ tham gia hay đi xem. Vì chăm
học quá mà! Nhưng đừng nghĩ rằng không nghe tiếng đại bác trong tháp ngà.
Vẫn nghe đấy chứ!. Cũng có những niềm riêng khắc khoải. Nhưng mục tiêu phía
trước phải đạt cho xong.

Tôi ra trường năm 71. Thân cư mệnh nên suốt đời tự lo. Họ hàng cha mẹ không
giúp, dù quen biết nhiều. Tôi viết bài 3 lần văn bằng cử nhân đi xin việc
làm đăng trên báo Chính Luận. Nhà báo nói láo ăn tiền. Bi thảm hóa thêm.
Chàng Giám Đốc Nha Viện Trợ trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch viết thư mời cô cử
đến cộng tác. Thế là hết những ngày lang thang sân trường đại học.

Hết những ngày khúc khích với anh trên đường Khắc Khoan, nghe lá me xanh reo
trên từng cao, hết những chiều thứ bảy cùng cô bạn thân ăn hàng chợ Sagon,
hết những giờ trong giảng đường của thầy Thới, nghe được cả tiếng muỗi vo
ve.

Tôi bắt đầu vào đời…

Từ ấy, Saigon của tôi…có những nét khác hơn của tuổi học trò, nhưng vẫn là
Saigon của mưa nắng 2 mùa, của áo lụa Hà Đông giữa trưa hè nóng bỏng, của
tiếng chuông chúa Xá Lợi ngân nga, của giáo đường Đức Bà tung bay muôn màu
áo dài chiều chủ nhật.

*Xin trả cho tôi nắng Sài gòn,
Thênh thang đường phố lụa hà đông.
Xin trả cho tôi mưa ngày ấy,
Và trả cho tôi cả cuộc tình.*

CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU

Tác Giả: MAI PHÚC

Chuyến vượt biên đẫm máu tôi đã từng trải qua sẽ còn mãi ám ảnh tôi

Nói về cuộc sống ở Mỹ của những người Việt Tỵ Nạn mà không nhắc đến những
cuộc hành trình gian nguy của họ để rời nơi cố hương thì quả là một thiếu
sót? Riêng với tôi, chuyến vượt biên đẫm máu tôi đã từng trải qua sẽ còn mãi
ám ảnh tôi cho đến hết những ngày tháng còn lại của mình.
Đó là lần đầu tiên tôi được đặt chân xuống tàu để mong rời khỏi quê hương
đầy hận thù ! Đó là những ngày cuối năm, sau khi được người thân ở Mỹ gửi về
cho ít tiền viện trợ, má tôi đã lo cho tôi đi vượt biên… Người ta dặn má
tôi về nói tôi hãy chờ, khi họ cho người xuống kêu là đi ngay. Ngày ngày,
tôi vẫn đi rừng đốn cây như thường lệ trong khi chờ đợi những thay đổi quan
trọng sắp đến cho mình.

Đúng như tôi đã lường trước, khi đứa em trai út vào rừng báo cho tôi biết
chuyến đi lúc trời đã tối hẳn rồi, đám thợ rừng chúng tôi vừa dựng được cái
sàn gỗ mới cưa xong để chuẩn bị làm chỗ ngủ. Tôi vội vàng vừa đi vừa chạy về
nhà với đủ thứ âu lo hồi hộp. Sáng sớm hôm sau, tôi đón chuyến xe đò đầu
tiên chạy về Saigon, để rồi từ đó đón xe đi Bà Rịa.

Nhớ lời dặn, để tránh sự theo dõi của du kích và công an, tôi đã thận trọng
xuống xe ở cách địa điểm “tập kết” của chuyến đi chừng một cây số để đi bộ
đến đó. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong nhà bà chị cùng đi trong chuyến vượt biên
đó, rồi đêm sau tôi được chuyển tới địa điểm ẩn náu khác mà dân ở đó gọi là
“nơi nhốt gà”. Phía trước nơi này cũng chỉ là một mái nhà tranh bình thường
như mọi ngôi nhà khác, nhưng phía sau có một gian nhà tranh khác được dựng
tường kín đáo hơn.

Đi theo người dẫn đường vào bên trong, tôi thấy đã có hơn 50 người khác đang
chờ đợi chuyến đi như tôi. Đến đây, tôi bắt đầu sống giữa những tiếng thì
thầm, những lời bàn luận; cùng những hy vọng và âu lo do từ những bàn luận
của họ. Ngày hôm sau, tôi có dịp làm quen và chia sẻ những quá khứ điêu linh
cùng những kinh nghiệm vượt biên và tù đày của họ.

Chúng tôi được chủ nhà cho ăn trưa và ăn tối tại chỗ. Ngay sau bữa tối, họ
dắt từng tốp đi ra ngõ sau vườn rồi băng qua những đám ruộng hoang cỏ mọc
lộn xọn để đến “bãi”! Trời tối đen như mực nên chúng tôi phải đi sát vào
nhau cho khỏi bị lạc và để cho đỡ sợ. Không phải chúng tôi sợ bóng tối mà là
sợ những bất trắc bị VC phát giác trên đường đi ra bãi.

Vì là dân rừng, tôi đã giúp nhiều người vượt qua các khe suối, những vũng
lầy; và dần dần tôi vượt qua hầu hết đoàn người để nhập vào toán dẫn đầu.
Khi người ta đi chậm dần và đứng lại, tôi nhìn thấy đám người vượt biên đến
“tập kết” ở bãi đông như cái sân nhà thờ vào ngày lễ chủ nhật, lúc đó tôi có
thể thấy lập lờ chiếc tàu vượt biên của chúng tôi đang chập chờn dưới bóng
đêm ở ngay con lạch trước mặt.

Thành tàu khá cao nên nhiều người không tự leo lên nổi; tuy nhiên khi tới
phiên tôi, chỉ cần vươn hai tay đu lên thành tàu và búng mạnh hai chân một
cái là cả thân hình tôi đã hoàn toàn ở trên boong tàu rồi. Vừa lên tới đó,
tôi đã bị người ta lùa ngay xuống hầm tàu.

Cửa hầm tàu là một lỗ vuông tối om nằm ở phía gần mũi tàu, chỉ vừa một người
chui xuống. Đúng ra đó chỉ là cái ham đựng cá. Bên ngoài dù trời tối nhưng
tôi còn có thể nhìn thấy những người gần mình; trái lại sau khi bị dồn xuống
hầm cá, hoàn toàn không nhìn thấy gì nữa, ngoại trừ cái ô vuông ở miệng hầm.
Tôi không thể biết cái hình dáng hay kích thước phía trong của nó như thế
nào, mà chỉ cảm giác được chỗ ngồi bằng 2 tay của mình thôi! Họ lùa người
xuống sau dồn người xuống trước tiến sâu hơn nữa vào phía cuối hầm tàu, vừa
đi vừa mò mẫm. Tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ, lỡ tàu chìm thì làm sao mình
thoát ra ngoài được đây? Vì thế tôi chùn bước không dám tiến sâu vào hướng
tối đó, mà nép người sang một bên ở gần ô vuông cửa hầm, nhường chỗ cho
những người xuống sau theo nhau mà bước sâu vào phía trong. Không nhìn thấy
gì nữa; nhưng qua cảm giác với những tiếng nói và tiếng động sột soạt, tôi
biết là người ta đang lũ lượt nhảy xuống! Những âm thanh đó kéo dài chừng
gần một tiếng, có lẽ mọi người đã được dồn hết vào “chiếc quan tài” trôi nổi
đó rồi thì có giọng ra lệnh cho tàu nổ máy chạy. Khi tàu vừa chạy, lại có
giọng nói lớn “bây giờ anh em nào công giáo, mình đọc kinh đi”; và tàu vẫn
cứ đều đều chạy.

Tiếng kinh râm ran hòa nhịp với tiếng máy tàu làm tâm hồn tôi cảm thấy yên
ổn hơn một chút. Nhưng chợt có giọng nói khác trên tàu ra lệnh “Tất cả im
lặng. Gần đến trạm công an!” 1 Tiếng máy lúc đó cũng trở lên nhẹ nhàng hơn,
làm như nó đang thận trọng trước những hiểm nguy đang rình chờ…

Có tiếng trẻ thơ khóc trong tàu làm mọi người lo lắng; một vài tiếng người
thì thầm phản đối. Có tiếng nói “bóp mũi nó lại không cho nó khóc nữa!” Rồi
bỗng có tiếng ra lệnh “cho máy dzọt lẹ lên, chạy hết ga đi!”

Trong khoảnh khắc sau đó, tôi nghe tiếng súng nổ; thế là rồi. Tôi phải ngồi
nghiến răng, ghì mạnh hai tay vào ván tàu đã nghe tiếng súng! Tàu đang chạy
hết tốc lực, có lúc tiếng súng xa dần để nhường chỗ cho những hy vọng trở
lại… Tiếng súng nghe xa, nhưng vẫn tiếp tục nổ. Căng thẳng! Chúng tôi đặt
hy vọng vào người tài công đang điều khiển chiếc tàu, và dồn những hy vọng
khác vào động cơ tàu để mong đẩy chiếc tàu vọt nhanh hơn cho mau thoát khỏi
chốn nguy nan!

Những giây phút căng thẳng này là những khoảnh khắc tranh chấp giữa sống và
chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa may mắn và ngục tù; giữa đấu tranh
chịu đựng và những chọn lựa ! Đây chính là giai đoạn khó nhất mà chúng tôi
phải trải qua để tìm được tự do Hàng trăm người trên tàu, nhưng không ai dám
nói chuyện và cựa quậy; mọi người đều tập trung một ý nghĩ mong sao chiếc
tàu lướt nhanh hơn và êm hơn để thắng lươt những giờ phút nguy kịch đó !

Đột nhiên, có những tiếng súng nổ chát chúa gần bên tàu. Tôi cảm thấy chiếc
tàu bẻ cua sang tay trái và chạy sượt vào mé bờ. Có nhiều tiếng kêu trời ơi
cứu tôi! Chiếc tàu chỉ lệch sang một bên nhưng chưa chìm, nó gượng lại thăng
bằng và tiếp tục chạy giữa tiếng súng nổ liên hồi. Trong bóng tối, tôi
nghiến răng ghì mạnh tay vào ván tàu để nỗi lo sợ của mình không buột ra
khỏi miệng, như một số người khác. Có tiếng nói trong tàu bảo tài công ngừng
lại, nhưng có tiếng nói khác ra lệnh cứ tiếp tục chạy.

Đạn đã bắn xuyên nhiều vào trong tàu, nhiều tiếng rên la bên trong nhưng lúc
đó tôi chỉ chú ý lắng nghe tiếng đạn bay xeo xéo sượt vào thành tàu! Rồi tôi
nghe tiếng chiếc tàu khác gạt vào mũi tàu tôi làm nó bị lệch hướng đâm xập
vào bờ! Con tàu chênh vênh một lần nữa tưởng như muốn bị lật úp; Nhiều người
giành nhau chui ra cái lỗ ô vuông cửa hầm tàu ngay phía gần đầu tôi. Có khi
hai ba người giành nhau chui ra một lúc làm cho những người muốn thoát ra
mất thì giờ hơn. Nhìn qua ô vuông đó, tôi thấy những ánh đèn pha sáng chói
bên ngoài.

Tôi không giành chui ra với họ là vì còn nuối tiếc chiếc tàu. Đến khi trống
trải không còn ai dám chui ra nữa thì tôi lại lo sợ, tại sao mình lại ngồi
trong đó để cho tàu chìm mà chờ chết ; và tôi liền quyết định chui lên!

Vừa chui lên, tôi đã bị chói mất bởi ánh đèn pha từ phía chiếc tàu VC; Sau
này vào tù thì tôi mới biết được rằng đó chính là chiếc tàu của những người
tù chung với tôi, họ bị bắt trong chuyến vượt biên trước chúng tôi. Công an
VC đứng dàn hàng ngang trên boong tàu đó, họ đang nhắm bắn từng người đang
bơi dưới con lạch nhỏ như những thợ săn nhắm bắn những chiếc gáo dừa đang
trôi lềnh bềnh dưới nước!

Vừa chui từ dưới hầm cá lên khỏi cái lỗ ô vuông, tôi giơ hai tay lên đầu
hàng. Một tên công an nó hỏi tôi hai, ba câu; sau đó chúng chú ý nhắm bắn
những “chiếc gáo dừa” kia, nên đột nhiên tôi quyết định nhảy trở lại xuống
hầm tàu! Sáng hôm sau, ngay chỗ cửa hầm tàu là xác chết của một đứa cháu họ
của tôi, nó bị bắn bể thái dương và rớt trở lại xuống dưới!

Sau khi hoàn toàn làm chủ tình hình, không còn ai dám nhảy xuống nước bỏ
trốn nữa, công an VC vẫn để những đèn pha chỉa vào chung quanh chiếc tàu và
cho phép một số chúng tôi leo lên boong nằm đợi lệnh. Nằm trên boong và dưới
ánh neon pha, tôi nhìn thấy xác chết của người thợ máy chiếc tàu chúng tôi
nổi lềnh bềnh cạnh đó. Suốt đêm, lẫn trong tiếng vi vu của gió biển là những
tiếng rên la não nề của những người bị thương nằm dưới hầm tàu.

Đến sáng thì những người ba con của tôi đi kiểm điểm người thân trên tàu,
thấy mất một số, có thể họ đã nhảy xuống nước bơi và trốn được rồi. Nhưng
lại có người không biết bơi mà tìm mãi vẫn không thấy họ; Có người cho biết
ở cái sàn phía sau máy tàu có ba, bốn người bị bắn chết nằm chồng lên nhau.
Tôi vội vã ra đó kiểm chứng kỹ xem có người thân nào của tôi không.

Lần này tôi mới chú ý nhìn mặt những xác chết, ….đúng rồi, nó chết rồi! Nó
bị bắn vỡ một góc đầu ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dựa lên xác của một thanh
niên khác cũng bị trúng đạn ngay tai. Còn một xác chết nữa ngay cạnh đó bị
bắn trong tư thế quỳ chổng mông lên trời trông như một trái núi, đầu cúi
khom xuống sát sàn gỗ, có lẽ để núp đạn; nhưng tôi cũng thấy một đường máu
khô trên sàn tàu chảy ra từ phía đầu của nạn nhân. Cả ba xác đó đều mở trợn
trừng mắt… nhìn tôi? Thế là đã có hai người thân của tôi chết trong chuyến
đi này! Còn hai xác khác bên trong tàu là một ông già bị đạn bắn nát ngực,
và xác đứa bé khóc lúc tàu chạy gần trạm công an. Không biết nó bị người ta
xô lấn hay bị bóp mũi cho chết lúc nó đang khóc!

Mãi tới chừng 10 giờ sáng hôm sau, công an mới đem một chiếc tàu khác đến
chở những người bị thương đi. Có người trong tàu đứng ra quyên tiền và vàng
để đút cho công an. Sau khi mang số vàng bạc sang nộp cho công an, mọi người
đều hy vọng chờ đợi; nhưng chờ hoài cũng chẳng có gì.

Mãi tới lúc chiều tối, có chiếc tàu công an khác chạy tới, bọn chúng lùa tất
cả mọi người lên tàu này chở vào nhà tù. Một số người là thân nhân của những
nạn nhân bị chết, bọn công an “cho” ở lại để dọn xác những người chết xuống
bãi, người ta hy vọng sẽ được thả . Tôi ở trong nhóm khoảng 10 thanh niên
được ở lại đó, đến chiều gần tối mới có một tên công an cấp lớn hơn đến giải
quyết với chúng tôi. Đầu tiên hắn hăm dọa chúng tôi, dí họng súng K54 vào
đầu từng người để khám xét. Ông chú họ của tôi bị hắn hăm dọa dữ quá đã phải
chắp tay lạy hắn! Sau đó hắn ra lệnh chúng tôi phải khiêng các xác người
chết trên tàu xuống.

Hắn ra lệnh và bắt chúng tôi phải làm thật nhanh. Tôi rất sợ xác chết và sợ
máu nên đi sau cùng và phải đứng dưới nước để đỡ những xác chết được chuyền
xuống. Lúc này chiếc tàu không còn người nữa nên nó nổi rất cao, tôi phải
giơ thẳng hai tay lên mới đỡ tới những xác chết chuyền trên boong xuống.
Thấy tôi nhút nhát, tên công an VC để ngón tay trỏ vào cò súng và dí mạnh
họng súng K54 vào gáy tôi bắt phải làm việc cho nhanh.

Khi những xác chết được lần lượt chuyền xuống, máu và óc của những nạn nhân
đó đã chảy đầy xuống đầu, mặt và toàn thân tôi. Lúc đó tôi quên cả cảm giác
với máu và óc vì cái cảm giác lạnh và cứng của họng súng K54 sau gáy nó chi
phối hết nỗi sợ hãi của mình, không may tên VC đó lỡ tay thì trong khoảnh
khắc cái mạng của tôi cũng sẽ tương tự như các nạn nhân kia thôi! Sau khi
làm xong việc chuyển xác, tên công an bắt chúng tôi rửa sạch những vết máu
trên tàu. Rồi hắn đưa chúng tôi lên tàu nhỏ của hắn cho đồng bọn chở về bãi
Lam Sơn ở gần Bà Rịa. Vì tên công an VC này sợ chúng tôi chạy trốn nên đã
bắt chúng tôi di chuyển bằng cách bò từ đó qua xóm nhà dân, qua chợ Lam Sơn
ra tới đường lộ. Hắn dồn chúng tôi lên một xe lam chở về nhập chung với nhóm
người bị giải đi trước tại trạm Gò Dầu. Từ đây, sau khi VC lột hết vàng bạc
của mọi người, chúng dùng xe công an chở thẳng chúng tôi vào trại giam B5 ở
Biên Hòa. Giữa đêm hàng trăm người chúng tôi đã bị nhét chung vào một chiếc
phòng chỉ bằng phòng ngủ master room của một gia đình ở Mỹ. Tôi đã phải ngồi
khít giữa khối người chen chúc và ngủ thiếp đi vì mệt mỏi và tuyệt vọng.

Sáng hôm sau tới giờ làm việc bọn công an VC lại bắt đầu một màn điều tra,
khám xét nữa. Chúng hỏi cung, làm hồ sơ lý lịch, rồi từng người chúng tôi
phải cởi hết quần áo đưa cho chúng khám xét. Rồi lần lượt mỗi người phải đi
ngang chiếc bàn và hả miệng ra cho tên công an VC kiểm kê mấy chiếc răng
vàng hoặc “khâu” vàng nào giấu trong miệng? Phòng bên cạnh là một công an
khác chuyên “điều trị” lỗ đít. Từng người phải đến đó, chổng đít lên gần mặt
nó và banh lớn lỗ đít ra cho nó kiếm vàng bên trong chỗ đó!

Sau đủ thứ thủ tục kỳ dị ấy, mọi đồ đạc đều bị cướp hết. Mọi người được đưa
vào một khu vực có tường dầy cao và hàng rào kẽm gai phía trên, cùng những
chòi canh trên cao ở bốn góc. Vào trong khu này tôi nghe thấy tiếng rì rào
như những đàn ong đang bay. Đến khi được đưa lại gần các căn phòng phát ra
những âm thanh đó thì mới biết đó là nơi cư trú mới của tôi. Từng phòng nhìn
vào tối om, có cánh cửa sắt và hàng chấn song sắt lớn. Nhìn mãi tôi mới nhận
ra một số người ở trần, mặc xà lỏn và đầu trọc lóc đang đứng gần song sắt
nhìn chúng tôi, trông họ ốm nhom như lũ khỉ.

Khoảng 5 phút sau, tên quản giáo đến mở khóa đưa chúng tôi vào nơi cư trú
mới, nhập bọn với “lũ khỉ” bên trong! Vì quá tối nên phải đứng chớp mắt một
lúc tôi mới nhìn rõ hết được căn phòng. Cả một xã hội mới, chẳng bao lâu
chính tôi cũng trở nên y hệt “lũ khỉ” đó; nhưng sau một thời gian tôi cảm
thấy cái xã hội trong đó còn có tình nghĩa hơn xã hội bên ngoài ma tôi đã
sống!

Nhiều năm đã qua. Sau cùng, tôi cũng đã tới được xứ sở tự do, nhưng mãi mãi,
chuyến vượt biên đẫm máu ấy còn ám ảnh tôi.

Như đã nói, nhiều vị có nói là phải quên quá khứ. Riêng tôi, quá khứ của tôi
tuy không đẹp nhưng tôi không có gì mặc cảm với những gì tôi đã kinh qua. Nó
là những bài học quý giá cho chính tôi về con người và nhất là về xã hội nơi
cố hương tôi đã từng sống.

Quá khứ đó cũng là những kinh nghiệm xương máu, mồ hôi và nước mắt; và bằng
chính mạng sống của những nạn nhân đã cùng cảnh ngộ như chúng tôi khi còn ở
đó. Những hy sinh của họ đã xúc động lương tâm thế giới để chúng ta được cơ
hội đến đây tỵ nạn và xây dựng cuộc sống mới hôm nay… Cuộc sống của chúng
ta hôm nay, há chẳng phải được xây dựng trên nền tảng quá khứ thương đau đó
sao?

Tình Nghĩa, Nghĩa Tình

Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1984, hiện là cư dân cuả Bắc California. Nghề nghiệp:
kỹ sư điện tử tại Intel Cooperation. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của cô là
“Vui Buồn Thuở Ấy”. Bài mới viết cho biết thêm cô là thuyền nhân và kể lại
câu chuyện xúc động: Một chuyến tầu vượt biển bị hải tặc săn đuổi và vào lúc
tả tơi cùng quẫn hết chạy nổi thì thấy lá cờ Mỹ…

***

Lần đầu tiên tôi có ý định viết chuyện này là năm 1989. Năm đó, cả nước Mỹ
xôn xao tranh cãi về việc một người đàn ông đã đốt lá cờ Mỹ ngay trên thềm
toà nhà Quốc Hội trong buổi họp thường niên cuả đảng Cộng Hoà. Lúc đó tôi đã
nghe nhiều bàn tán về sự kiện này từ phía chống đối cũng như phe ủng hộ.
Ngày đó tôi vưà mới tốt nghiệp đại học, chưa để ý nhiều đến những sinh hoạt
chính trị xã hội ở chung quanh, nhưng trong lòng tôi đột nhiên dâng lên một
cảm xúc gần như là tiếc cho ngươì đàn ông đã làm hành động đó. Nếu ông ta
từng nhìn lá cờ Mỹ qua đôi mắt của tôi và của hơn một trăm ngươì bạn đồng
thuyền vaò buổi sáng muà hè năm ấy, không biết ông ta có hành động khác đi
chăng?

. . .

Đêm trung tuần tháng 7 năm 1983 bắt đầu khá êm ả. Con thuyền nhỏ đầy kín
ngươì đã ra hải phận quốc tế được gần 24 tiếng. Tôi đã hơi quen với mùi hôi
tanh lợm giọng trong thuyền nên cảm thấy hơi tỉnh táo, ngồi bó gối nhìn cô
em gái nằm bên cạnh đang mê man vì say sóng. Ngước mắt nhìn lên bầu trời
đang chuyển dần từ màu xám sang màu đen thẫm, tôi thầm cầu nguyện cho được
bình an. Cám ơn trời, biển khá êm, con tàu không vật vã mà chỉ chồm lên hụp
xuống theo từng đợt sóng. Tiếng khóc cuả con nít, tiếng càu nhàu than thở,
tiếng chửi thề cũng lắng dần khi mọi ngươì chìm vào giấc ngủ mệt mỏi…

Hình như tôi có thiếp đi một lúc vì khi tôi giật mình choàng dậy thì sự
hoảng sợ đã chụp xuống chung quanh. Bác tài công đang hối hả kêu mấy ngươì
lái phụ và các thanh niên khác dùng bạt bịt kín khoang thuyền nơi mọi người
đang nằm chen chúc. Chiếc đèn măng xông duy nhất trong phòng máy bị thổi tắt
phụt sau khi bác tài công ra lệnh:

- Tắt đèn! Tắt hết đèn đi!!!

Lắng nghe những lời thì thào trao đổi một lúc tôi mới hiểu ra rằng tàu chúng
tôi đang bị tàu cuớp Thái Lan đuổi bắt. Chúng tôi phải tắt hết đèn chạy
xuyên vào biển đen trong khi tàu Thái ra sức rượt theo. Cả tàu đuợc lệnh
tuyệt đối im lặng, những đứa bé vưà lên tiếng khóc phải bị bịt miệng ngay.
Không biết lúc đó tôi còn trẻ quá, dại dột quá, có nhiều tin tưởng quá, hay
vì cảm xúc cuả tôi đã tê dại đi, nên tôi không thấy sợ hãi lắm. Tôi gần như
không cảm được sự hãi hùng của hơn một trăm sinh mạng đang loi ngoi trong
khoang thuyền bịt kín. Tôi chỉ thấy khó thở vô cùng; tôi chỉ thấy nhẹ gánh
cho em tôi đang mê man, chắc nó không phải cảm thấy sự ngộp thở tưởng chừng
như không kham nổi mà tôi đang chịu; tôi chỉ biết tự nhủ ráng lên, ráng lên;
và tôi không ngừng cầu xin Thượng Đế, Chúa, Phật, và tất cả những đấng
thiêng liêng cứu vớt chúng tôi…
Chúng tôi chạy vòng vèo ngay truớc mũi tử thần trong suốt một đêm, và bình
minh tới dù không ai mong đợị. Những tia sáng đã quét đi màn đêm đang che
chở chúng tôi. Bác tài công buông những câu chửi thề uất hận khi khoảng cách
giữa bọn cướp và chúng tôi thu ngắn trong khoảnh khắc… Rồi tôi lại nghe
bác lại chửi, nhưng lần này đuợm vẻ ngạc nhiên pha chút vui mừng:

- ĐM, hình như tụi nó bỏ đi hả bây?

Tấm bạt bịt khoang được hé ra cho chúng tôi khỏi chết ngộp, và qua cái khe
hở nhỏ đó, một con cá nhỏ xíu bằng ngón tay cái đã phóng vào thuyền, rơi
xuống ngay cạnh tôi. Tôi ngước mắt cố nhìn nhưng vì đang ngồi bẹp trong
khoang thuyền nên tôi chẳng thấy được gì ngoài một mảng trời đang sáng dần.

Bỗng bác tài công và những nguơì trong phòng máy trên cao vụt la lớn:

- Có tàu! Có tàu lớn ở đàng xa kià!

- Tàu gì vậy? Vái trời cho không phải tàu Liên Xô!

Chúng tôi như đuợc hồi sinh, ai cũng nhỏm lên nhìn nhưng vì lúc đó chiếc tàu
kia chỉ là một đốm nhỏ ở xa nên tôi chưa thấy gì cả. Vài phút sau, có tiếng
máy rồi một chiếc máy bay trực thăng nhỏ bay qua. Người trong thuyền la hét
như điên cuồng, nhiều người đàn ông cởi áo phất lia lịa nhưng máy bay chỉ
lượn vài vòng rồi… mất hút. Dù sao chúng tôi cũng có một tia hy vọng ở
chân trời, chúng tôi vội nhắm cái chấm ở tít đằng xa mà chạy tới. Và chiếc
tàu kia hình như cũng đang chạy về phía chúng tôi vì nó càng ngày càng lớn
dần.

Và, suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên giây phút đó, giây phút ngươì đàn ông
ngồi trên cao la lạc giọng:

- Thấy rồi! Thấy cờ Mỹ rồi!!!

Nước mắt ông ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ lấm lem dầu máy. Mọi người đứng
bật lên làm thuyền chao mạnh. Chúng tôi đã thật sự được sống!

Chiếc tàu vớt chúng tôi là một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Nó to như một toà
nhà mười mấy tầng, những ngươì lính đầu tiên phải leo thang dây xuống để đem
con nít và những ngươì yếu sức lên trước. Em tôi đã tỉnh dậy như một phép lạ
và chúng tôi bám vào thang dây, dò từng bước leo lên boong tàu. Vưà lên tới
nơi, mỗi ngươì được trao một ly sữa và một trái táo trước khi tụ tập trong
một góc boong. Và ngạc nhiên thay, trên tàu đã có cả trăm ngươì Việt Nam
chạy ra mừng chúng tôi. Thì ra chiếc tàu Mỹ này vừa mới vớt một thuyền vượt
biên khác ngày hôm trước. Sau khi mọi ngươì đã lên tàu lớn, những nguơì lính
Mỹ tưới xăng lên chiếc thuyền mà chúng tôi vưà rời khỏi rồi châm lưả đốt.
Đứng trên boong tàu nhìn vói theo chiếc thuyền nhỏ xíu đang bốc cháy và trôi
dần ra xa, biết rằng mình vô cùng may mắn, nhưng lòng tôi vẫn thoáng chút
ngậm ngùi…

Tổng cộng thuyền nhân đuợc cứu từ hai chiếc ghe vuợt biên lên tới gần hai
trăm năm mươi người. Hồi đó, tiếng Anh cuả tôi kém và tính tình nhút nhát
nên không dám hỏi han những người lính ở trên tàu. Tôi chỉ nghe nói lại là
chiếc hàng không mẫu hạm này đang trên đuờng đi công tác ở Phi Luật Tân. Họ
đã nhìn thấy tàu chúng tôi từ rất xa và quyêt định đi chếch qua để cứu chúng
tôi. Chiếc trực thăng bay qua trước khi tàu đến cũng là do vị thuyền trưởng
đã gởi tới để xem xét tình trạng của chúng tôi.

Không hiểu vì sao mà trên tàu có sẵn một số quần áo cũ. Chúng tôi đuợc phép
lựa những thứ tạm mặc đuợc để thay đổi hàng ngàỵ. Khổ nỗi đống quần áo đã
qua sự lựa chọn cuả những người lên trước nên chỉ còn toàn những thứ khó
mặc. Tôi nhặt đại hai cái áo to bằng bốn lần khổ người tôi, và một bộ áo
liền quần màu xanh bó sát. Chẳng hề gì, tôi vẫn vô cùng sung sướng vì ước mơ
gần như hoang đường nay đã thành sự thật: tôi đã trốn thoát khỏi Việt Nam và
đang ở trên tàu Mỹ.

Ngày đó tôi vưà học xong trung học. Sau 8 năm đói khổ sau bức màn sắt cuả
Cộng Sản, thế hệ chúng tôi hầu như quên mất có một thế giới bên ngoài. Trong
những ngày trên tàu Mỹ tôi đã gặp lại những hành động lịch sự, những cử chỉ
nhân ái gần như đã biến mất trong xã hội nơi tôi vừa ra đi. Những ân nhân
của chúng tôi ân cần đến từng chi tiết nhỏ, một trong những việc đầu tiên họ
làm là phát phong bì, giấy bút cho chúng tôi viết thư báo tin cho người
thân. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ chiếc phong bì màu xanh nhạt có hình
chiếc hàng không mẫu hạm và tên tàu ở góc, tôi vẫn còn nhớ ánh mắt thương
cảm của những người trên tàu nhìn chúng tôi nhếch nhác, bơ phờ dò từng bước
lên tàu.
Suốt thời gian trên tàu tôi vô cùng ái ngại cho những ngưòi lính và những sĩ
quan đã tốn không biết bao nhiêu công sức để lo cho hơn hai trăm ngươì chúng
tôi. Vì hàng không mẫu hạm là đơn vị quân sự nên chúng tôi không được phép
ra khỏi phần cuối boong tàu. Mỗi người được phát một tấm chăn dạ màu xám,
loại chăn nhà binh Mỹ mà tôi đã thấy trước năm 1975. Chăn rất tốt và khí hậu
Thái Bình Dương vào muà hè khá ấm nhưng chúng tôi phải nằm ngay trên boong
và gió thổi lồng lộng khi tàu chạy nhanh nên ban đêm vẫn lạnh. Tôi ngủ đuợc
rất ít nhưng chính vì thế tôi càng có cơ hội chứng kiến sự tận tâm cuả những
người trên tàu. Sáng sớm tôi vưà thức dậy đã thấy ngươì ta đang lăng xăng
dọn thức ăn sáng cho chúng tôi. Mất mấy tiếng mới phục vụ hết đám ngươì đông
đúc nên chỉ vài tiếng sau là họ lại lục tục lo bữa ăn trưa, rồi ăn tối. Thức
ăn quá lạ miệng nên tôi không thấy ngon, ngay cả trái chuối cũng khác ở Việt
Nam, nhưng tôi nhớ nhất là ly cà phê đầu tiên trên tàu. Đã từng nếm những ly
cà phê đen sánh quậy với sữa đặc ở Việt Nam, tôi ngạc nhiên lắm khi ngậm
ngụm cà phê Mỹ pha sẵn. Thật tình, cà phê sao chua lè và trong veo, y như là
nước giảo của cà phê Việt Nam!

Vấn đề vệ sinh cho hơn hai trăm người chen chúc trong khoảng không gian nhỏ
mới thật là kinh khủng. Thuỷ thủ đòan phải dùng nylon đen che thành mấy
phòng tắm quay mặt ra biển, nhà vệ sinh cũng là nylon đen quây quanh mấy
thùng sắt to. Mỗi sáng nhân viên trên tàu cùng chúng tôi dọn dẹp, và tôi
không thấy người nào tỏ thái độ khó chịu cho dù trong khi làm những việc cực
nhọc nhất.

Mấy ngày ngắn ngủi trên tàu mãi mãi là một trong những kỷ niệm khó quên nhất
trong đời tôi. Trên chiếc hàng không mẫu hạm hùng vĩ đó, tôi đã đuợc xem
cảnh tàu chở xăng xáp vào tiếp nhiên liệu cho tàu lớn ngay trên biển, đã
được chứng kiến những sinh hoạt hàng ngày quy củ răm rắp như một trong guồng
máy nhưng đuợc thực hiện bởi hải đoàn đầy ắp tình người. Tôi nhớ nhân viên
trên tàu ngoài nhiệm vụ riêng họ còn phải chăm sóc đủ thứ cho chúng tôi, và
phải lo rất nhiều giấy tờ cho thủ tục gởi chúng tôi vào trại tị nạn Thái
Lan. Bận rộn vậy nhưng không khí trên tàu luôn ấm cúng và thân tình. Tôi vẫn
nhớ lễ chào cờ mỗi sáng, đám người tị nạn đứng sát bên thuỷ thủ đoàn cùng
lắng nghe quốc ca Hoa Kỳ vang vọng. Tôi vẫn mường tượng đuợc cảm giác bàng
hoàng khi nhìn lá cờ Hoa Kỳ bay lồng lộng trên bầu trời xanh biếc cuả Thái
Bình Dương mà tự nhủ không biết mình sẽ ra sao nếu chiếc tàu này đến trễ chỉ
một vài tiếng trong buổi bình minh hôm trước…

Mỗi buổi chiều khi công việc đã xong, người trên tàu túa ra trò chuyện với
chúng tôi. Từ vị sĩ quan trong đồng phục trắng toát tới anh thuỷ thủ trong
đồng phục xanh, ai cũng ân cần vui vẻ. Họ đuà giỡn với con nít, trò chuyện
với mọi nguời, cố lắng nghe những câu tiếng Anh vụng về cuả chúng tôi để tìm
hiểu xem chúng tôi có cần thêm gì hay không. Để chúng tôi giải khuây, họ còn
căng màn chiếu phim. Tôi nhớ mãi cuốn phim đó là phim Điệp viên 007 James
Bond với tựa đề “For Your Eyes Only”. Giữa trời đêm lồng lộng ngàn ánh sao,
trên con thuyền băng băng xuyên vào biển đen, những hình ảnh rực rỡ chớp tắt
trên màn ảnh vĩ đại làm tôi mơ màng tưỏng như mình đang trôi trong đêm hoa
đăng thần thoại của một giấc mơ kỳ diệu.
. . .

Như thế đó, tôi đã may mắn gặp đuợc cái đẹp đẽ nhất cuả nước Mỹ trước khi
đặt chân tới đất nước này. Tôi đến Mỹ với vài đô la và mấy bộ quần áo tồi
tàn nhưng gia tài cuả tôi là lòng cảm mến sâu xa với một miền đất giàu tình
ngươì, cùng với hoài bão sẽ cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh cuả
gia đình, với sự may mắn mà Thượng Đế đã nhờ những “sứ giả” trên tàu Mỹ đem
đến cho chúng tôi.

Những bối rối vì ngôn ngữ, những trở ngại khi hội nhập đôi khi có làm tôi
buồn nản, nhưng tôi thấy quay quắt nhất là những khi nhớ về Việt Nam. Những
chuyện nhỏ nhặt như khi đi chợ Việt Nam, nhìn người ta xăm soi tìm cho được
những trái tuyệt hảo nhất trong đám nhãn mọng tươi nhập cảng từ Á châu cũng
làm tôi bùi ngùi. Tôi nghĩ đến những trái hơi có tì vết mà không ai thèm mua
kia cũng có thể là hàng xuất khẩu từ Việt Nam, là tinh hoa chắt ra từ quê
hương nghèo nàn của tôi, là loại hàng “xuất khẩu” mà người đi làm bình
thường như cha mẹ tôi không bao giờ mua nổi.

Tuy thế, vấn đề lớn nhất tôi gặp phải trên đất Mỹ là một chuyện tôi chưa hề
nghĩ tới: đó là tình cảm của tôi với nước Mỹ đã làm tôi hoang mang. Ngay từ
nhỏ, những câu tục ngữ như “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà
nghèo” đã thấm sâu vào lòng tôi. Cho dù tôi biết chắc rằng tôi không liều
mạng vượt biển vì miếng cơm manh áo, tôi ra đi không phải vì tôi chê mẹ Việt
Nam nghèo khó, nhưng trong trí óc cuả một thiếu nữ đang trưỏng thành một
mình trên miền đất mới, tôi cảm thấy gần như… có lỗi khi thấy mình càng
ngày càng quen với đời sống mới và thật sự yêu mến quê hương thứ hai này. Có
lẽ cảm giác đó giống như đưá con nuôi cuả một gia đình giàu có, một ngày kia
trở về quê cũ và cảm thấy băn khoăn khi bắt gặp mình ngập ngừng, xa lạ trước
cha mẹ ruột nghèo nàn xấu xí.

Không hiểu may mắn hay không may cho tôi là khi chiến tranh Việt Nam đang
diễn ra thì tôi còn nhỏ. Vì thế, trong lòng tôi không có cảm giác hụt hẫng
và đau đớn của nhiều người lớn khi bị “đồng minh Mỹ bỏ rơi”. Khi tôi nghe
vài ngưòi nói rằng nước Mỹ cưu mang chúng ta không phải vì họ tốt mà vì họ
có trách nhiệm với người Việt, tôi hiểu tại sao họ nghĩ thế nhưng tôi không
cảm được. Tôi kính trọng suy tư riêng cuả mỗi ngươì, nhưng riêng tôi, tôi
thấy cái tinh tuý cuả hiệp chủng quốc vượt khỏi những nhiệm kỳ tổng thống
hay đảng phái. Tinh tuý đó đến từ những nguơì dân Mỹ. Có lẽ tình cảm cuả tôi
với nước Mỹ đã thành hình từ lúc nhìn con tàu mang lá cờ Mỹ lớn dần từ phía
chân trời trên Thái Bình Dưong, từ khoảnh khắc thấy người lính Mỹ ôm chặt em
bé nhớp nhúa ói mửa vào lòng để đem lên tàu, từ khi anh thủy thủ ân cần dùng
con dao nhỏ cắt bớt chiếc dép cao su cho vừa chân tôi, từ hình ảnh người sĩ
quan trong bộ đồng phục trắng toát đang xắn quần, gò lưng kéo dây ghìm cho
thuyền nhỏ đứng yên để chúng tôi bước lên bờ biển Thái Lan, từ hình ảnh
những ngươì Mỹ đứng một hàng dài lưu luyến dõi theo đám thuyền nhân chúng
tôi đang lục tục đi vào trại mà còn cố ngoái lại nhìn qua làn nước mắt.

Tôi tin rằng không phải vị thuyền trưởng nghĩ rằng người Mỹ có trách nhiệm
với chúng tôi, hay vì sự may mắn khi con cá nhỏ nhảy vào tàu mà chúng tôi
được vớt. Nước Mỹ có quyền không cho phép chiếc hàng không mẫu hạm đi chệch
hải đồ để cứu người, giống như bao con tàu khác đã làm ngơ với những chuyến
vượt biên kém may mắn. Hơn nữa, những gì không thật sẽ không tồn tại lâu
bền, cho nên tình cảm ban đầu cuả tôi với nước Mỹ sẽ mất đi nếu tôi không
càng ngày càng thấy Hoa Kỳ là một đất nước bao dung. Tôi không ngây thơ nghĩ
rằng – hay mong rằng – nước Mỹ là hoàn hảo; nhưng với tôi nuớc Mỹ là một
dòng sông mênh mông, đôi khi cũng đem theo rác dơ, đôi khi cũng dậy sóng
nguy hiểm, nhưng dòng sông đó đã rộng lòng đem nước và phù sa đến cho những
giống cây đến từ khắp nơi có cơ hội đơm trái ngọt.

Người sống lâu ngày trong bình an, sung sướng thường quên rằng mình may mắn.
Người đàn ông đốt lá cờ Mỹ trên thềm nhà Quốc Hội chắc chỉ nhớ đến những rác
rưởi trong dòng sông, chắc ông ta không hiểu rằng chỉ ở Hoa Kỳ ông ta mới
dám chà đạp quốc kỳ ngay trước toà nhà lập pháp mà không sợ rằng mình sẽ “ra
đi không có ngày về”. Ông ta chắc chắn không biết rằng lá cờ đó đã khiến hải
tặc Thái Lan buông chúng tôi, đã quyết định giữa cuộc sống bình an ở Hoa Kỳ
và cái chết – hay một cuộc sống nô lệ trên xứ Thái đau khổ hơn cả cái chết -
cuả hơn một trăm người trên chiếc thuyền vượt biên vào một ngày hè năm 1983.

. . .

Thời gian trôi qua. Tôi đã lớn lên và đã hiểu ra rằng tôi không hề phải chọn
lựa giữa quê hương thứ nhất Việt Nam và quê hưong thứ hai Hoa Kỳ. Tôi yêu
mến đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã cưu mang tôi, cho cây tôi lớn lên
thành một cây quýt ngọt, và đất nước này không hề phiền hà khi tôi đem chia
xẻ trái ngọt đó với nơi tôi sinh ra. Tôi đâu phải là cá hồi mà phải chọn lựa
giưã sông và biển? Tinh thần cuả nước Mỹ luôn khuyến khích mọi người góp sức
làm thế giới tốt đẹp hơn và tôi sẽ làm như thế. Tôi sẽ cố gắng để bằng cách
này hay cách khác, trao lại những may mắn và cơ hội mà tôi đã được trao. Hy
vọng là tôi sẽ góp phần để một ngày nào đó người dân Việt Nam không còn phải
tìm cách ra đi cho dù phải trả giá bằng tính mạng hay nhân phẩm.
Tôi yêu Việt Nam đã sinh thành ra tôi và tôi yêu Hoa Kỳ đã duỡng dục tôi.
Đôi khi tôi tẩn mẩn phân tích tình cảm cuả mình: với Việt Nam là tình, với
Hoa Kỳ là nghiã… Rồi tôi lại loay hoay tự hỏi có phải như vậy không, hay
là ngược lại? Cuối cùng tôi bật cười, nghĩ mình thật là lẩn thẩn, bởi vì
tình cảm đâu cần gì phân loại và đặt tên.

Khôi An
Mùa Giáng Sinh 2008

*Con đường bốn mùa*

by Nhật ký

Đã đi qua biết bao con đường nhưng trong tôi luôn hiện hữu một con đường
thật đặc biệt — “Con đường bốn mùa”

Mỗi người đều đang đi trên một con đường chính là hành trình cuộc sống… Và
không biết có ai đã từng nhận ra rằng một con đường bình thường trải qua bốn
mùa xuân hạ thu đông với những màu sắc tượng trưng khác nhau thì con đường
cuộc sống cũng có bốn giai đoạn từ tuổi trẻ đến tuổi già với những cung bậc
thăng trầm…

Con đường của những mộng mơ vừa chớm nở, của những kí ức yêu dấu một thời xa
xôi… Đã đi qua biết bao con đường nhưng trong tôi luôn hiện hữu một con
đường thật đặc biệt — tôi gọi đó là “Con đường bốn mùa” với những sắc màu
riêng. Từng ngày trôi qua, tôi đang chuyển động trên con đường ấy trong
chuyến hành trình dài mang tên cuộc sống…

oOo

Con đường màu xanh…Buổi sáng se se lạnh, chút gió từ mặt hồ khẽ thổi tung
làn tóc rối nhưng không giống luồng không khí nóng của chiếc máy sấy tóc mà
như cái điều hòa nhiệt độ thiên nhiên phả ra hơi nước mát lành. Tiết trời
buổi sớm mai thật lạ lúc xuân đang về. Tôi thích nhìn lên bầu trời xanh vời
vợi gió lộng để tìm tiếng hót họa mi réo rắt trên cành lá biếc. Sáng trong
như ánh bình minh len qua kẽ lá, soi đốm nắng đầu tiên lên nụ hoa đào e ấp
chúm chím môi hồng, dịu dàng như hoa lộc vừng rủ xuống mặt hồ mênh mang gợn
sóng, tinh khiết như những giọt sương còn ủ mình trong thảm cỏ non xanh
mướt…

oOo

Con đường màu đỏ…Đầu tháng tư, đâu đó ẩn sâu trong tàn lá dày vài nụ phượng
vĩ bé xíu đầu tiên để chợt nhận ra “Hè đã về rồi!”. Thoáng đó, kỳ thi học kỳ
qua, ngước mặt lên là thấy cả một khoảng trời rực đỏ hoa phượng như những
cánh bướm níu giữ thêm màu sắc sặc sỡ của nắng hạ. Vừa mang chút gì đó rạo
rực của không khí ngày hè sôi động với biết bao kế hoạch vui chơi ấp ủ suốt
những tháng dài học hành bận rộn, lại vừa mang một chút da diết, luyến lưu
trường xưa bạn cũ trong tiếng ve sầu râm ran bao phủ cả khoảng không bởi âm
thanh trầm buồn. Thân thương là thế bởi tôi đã đi qua hơn mười lăm mùa hoa
trên con đường rực đỏ hoa phượng ướp đầy mùi hương kí ức đọng mãi cùng thời
gian. Một ngày hè ngập nắng vàng ươm, có màu phượng hòa cùng màu “hoa trạng
nguyên” đỏ thắm trên cổng trường đại học đang tiếp thêm cho tôi sức bật để
tự bay cao đón chào cuộc sống trên chính đôi cánh của mình…

oOo

Con đường màu vàng…Tôi yêu trời mùa thu với gió nhẹ, trời trong, nắng nhạt
được điểm xuyết bởi sắc vàng đậm của những con đường trải dài hoa cúc. Mỗi
cánh hoa ẩn chứa một niềm hy vọng làm ánh lên sức sống của sự tin tưởng và
tình yêu thương. Hoa cúc mùa thu mang hương thơm dịu vợi cho lòng tôi miên
man trong khoảnh khắc giao mùa, cho tâm hồn tôi nhẹ bẫng như đám mây lơ đãng
trôi về cuối chân trời, cho đôi tai tôi nâng niu những khoảng lặng giữa đời
thường khi lắng nghe tiếng gió thổi, tiếng chim ca… Để biết rằng mỗi người
là một nốt nhạc đan xen nhau trong cuộc sống tựa như bản hòa tấu bất tận của
thời gian…

oOo

Con đường màu nâu…Chiếc lá bàng khô ép trong quyển lưu bút giờ chỉ còn lại
những gân lá xác xơ. Một đêm đầu đông, gió rét mướt từ phương xa đến làm cả
khu phố chuyển mình run rẩy. Hai bên đường vắng tanh, có chăng chỉ còn lại
những cây bàng bơ vơ, vươn nhánh cây khô gầy trơ trọi sau khi đã phủ lên con
đường một tấm thảm màu nâu đỏ lá bàng khô. Buổi chiều chỉ nghe thấy tiếng
lạo xạo của chiếc lá khô nào cong queo gồng mình dưới bánh xe quay nhanh rồi
vỡ nát. Màu lá khô đượm buồn nhưng phần nào giúp vơi bớt sắc trời tẻ nhạt
trong khí lạnh se sắt của ngày đông. Làn khói ấm từ lá bàng khô cháy đượm
cũng đủ làm hồng đôi má, khiến đầu tôi mông lung một câu hỏi “Những chiếc lá
bàng rơi rụng trước khi hòa vào đất còn có thể bên nhau làm bùng lên ngọn
lửa trong đêm đông giá rét thì tại sao sức mạnh của tình yêu lại không thể
bừng sáng xua đi mọi tối tăm ẩn trong từng ngóc ngách của cuộc sống này…”

oOo

Cùng trên một con đường nhưng đi qua mỗi mùa trong năm lại hiện lên màu sắc
tiêu biểu khác nhau. Cuộc sống của con người với những cung bậc thăng trầm
cũng đi qua một con đường như thế. Đó là mùa xuân màu xanh với những ước mơ
non nớt nhưng đầy ắp hy vọng, là mùa hè màu đỏ với những hoài bão tuổi trẻ
xây đắp thành công, là mùa thu màu vàng khi người ta cần chững lại để tìm
kiếm những ý nghĩa tốt đẹp giữa cuộc sống thực tại và mùa đông màu nâu trầm
mặc của hoài niệm trong không gian tĩnh lặng của tuổi già.

Thời gian trôi như chuyến tàu đưa chúng ta lướt vội vã qua bốn giai đoạn
trong hành trình cuộc sống. Người thành công nhất không phải là người đến
đích trước bởi vì sân ga cuối cùng bao giờ cũng là “mùa đông của tuổi già”,
chỉ có những người góp nhặt được vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên bên ngoài
nơi đoàn tàu đi qua và sống hạnh phúc trọn vẹn mỗi mùa mới thật sự là người
có được thành công viên mãn! Khi đi qua từng giai đoạn của cuộc sống này,
bạn và tôi còn chần chờ gì mà không cảm nhận giá trị của yêu thương ngay từ
hôm nay!

*Ở SÀI GÒN *

Tôi viết nhiều vậy mà chưa viết về Sài Gòn, kể cũng là thiếu. Tôi sinh ra
ở Hà Tĩnh, lớn lên ở Nha Trang và định cư ở Sài Gòn từ năm 18 tuổi đến giờ.
Vậy mà năm lần bảy lượt muốn viết một cái gì về Sài Gòn, tôi viết rồi lại
ngưng vì chẳng biết viết gì.*

Sài Gòn là mảnh đất lạ kỳ. Nó lạ kỳ đến nỗi người ta chẳng biết viết gì, nói
gì về nó. Nó lạ kỳ đến nỗi người ta nhớ về nó khi đang ở trong lòng nó. Nó
lạ kỳ đến nỗi người ta thương nó bằng một thứ tình cảm mơ hồ nhưng mãnh liệt
đến ngạt thở, như kiểu một thứ tình nghĩa khác, không phải là quê hương.

Tôi đến Sài Gòn lần đầu tiên năm 1991, trên một cái xe cấp cứu. Không phải
xe chở tôi, là tôi quá giang xe cấp cứu chở một bệnh nhân viêm màng não từ
bệnh viện Khánh Hòa chuyển viện vào Chợ Rẫy.
<http://1.bp.blogspot.com/-8pE9zAyDdDQ/TlMYhUh_vDI/AAAAAAAACZ8/oLxkNddMeRs/s1600/DSC02647.jpg>

Tôi nhớ như in khi người tài xế lần đầu vào Sài Gòn đã đi vào đường một
chiều và bị hàng loạt xe gắn máy suýt đụng phải. Tôi nhớ mình đã tháo cái
nhẫn 2 chỉ vàng trên tay để nhét vô vớ vì nghe nói cướp ở Sài gòn sẳn sàng
chặt tay bạn chỉ để cướp một chỉ vàng.

Ngày đó, ấn tượng đầu tiên của tôi là Sài Gòn quá lớn và quá đông.

Tới bây giờ, ấn tượng của tôi cũng vẫn là Sài Gòn quá lớn và quá đông.

Sài Gòn lớn. Tôi đồ nó phải lớn hơn cả Singapore hay HongKong. Từ ruộng đồng
Hóc Môn ra đến biển Cần Giờ, từ vườn cây Thủ Đức mút đến miệt Bình Chánh xa
xôi. Ở đâu cũng là đất Sài Gòn.

Câu nói ấn tượng nhất về Sài Gòn tôi nghe từ một ông già đã 40 năm chạy xe
xích lô: “Không thằng nào dám vỗ ngực nói mình biết hết đất Sài Gòn”.

Sài Gòn đông. Ngoài đường, trong chợ, hàng quán…đều ngùn ngụt người. Từ khu
Chợ Lớn đầy người Hoa nói tiếng Hoa đến khu Dân Sinh kiếm cái gì cũng có, mà
không có người ta cũng kiếm cho bằng được.

Từ những đường phố luôn tấp nập người xe đến những cái chợ bán buôn thâu đêm
suốt sáng. Đâu đâu cũng đầy người, càng ngày càng đông. Tôi dám cá rằng hơn
phân nửa số người bạn gặp ở Sài Gòn đều không phải là người Sài gòn chính
gốc. Như tôi.
<http://2.bp.blogspot.com/-Fpqmoryw6FY/TlMYs7exzcI/AAAAAAAACaA/F9C3MLlqWFU/s1600/DSC02676.jpg>

Ở Sài Gòn có một thứ không khí khác, có lẽ được quánh đặc bởi bụi, khói, bởi
mùi mồ hôi, mùi đồ ăn, bởi tiếng xe, tiếng người bởi muôn ngàn thanh âm, màu
sắc mà một khi đã quen hít thở với nó, bạn sẽ không bao giờ quên được, nếu
không nói là khó mà rời xa được.

Ở Sài Gòn, đất dung nạp vào nó đủ mọi hạng người, từ anh trí thức hàn lâm
đến chị bán trôn nuôi miệng, đều cảm thấy đất này dễ sống hơn chỗ khác.

Từ giới nghệ sĩ có tài và bất tài đến mấy bà buôn thúng bán bưng đều nuôi
mộng lập nghiệp nơi mảnh đất lắm người nhiều xe này.

Ở Sài Gòn, bạn hay chứng kiến những tai nạn giao thông nho nhỏ do xe máy,
thường cả hai bên va chạm đều tự dựng xe lên, nhìn ngó xe của mình, xuýt xoa
vài tiếng rồi nổ máy xe, mạnh ai nấy đi, thậm chí họ cũng chẳng nhìn nhau.
<http://3.bp.blogspot.com/-7YOfT2elZgw/TlMZFSrsAmI/AAAAAAAACaE/A6yjorAeRvA/s1600/DSC05411.jpg>

Ở Sài Gòn thỉnh thoảng có người chạy theo bạn ngoài đường chỉ để nhắc bạn
nhớ gạt chân chống xe hoặc coi chừng bị rớt cái ví lòi ở túi quần sau.

Ở Sài Gòn, bạn dễ thấy những quán xá tạm bợ và tối giản đến không ngờ, nhiều
quán cà phê chỉ với một cái lon bò húc làm biểu tượng vậy mà một ngày bán
không dưới 300 ly café bằng cách bưng đến tận nơi.

Có một xe bánh mì nhỏ chỉ bán buổi chiều tối mà doanh thu hằng ngày lên đến
cả chục triệu.

Có một bà chỉ bán nước sâm vỉa hè mà sau ba năm đã mua được căn nhà mặt tiền
to vật ở chính nơi mà bà xin đặt xe nước sâm của mình.

Ở Sài Gòn có nhiều bạn trẻ mặc đồ như tây, ngồi ở café máy lạnh với laptop
trước mặt và viết đơn xin việc, nhưng cũng có nhiều bậc trung niên mặc quần
đùi uống café cóc ở vỉa hè bàn chuyện xây cao ốc cho thuê.

Ở Sài Gòn bạn có thể xin làm phụ việc ở bất cứ đâu mà lương tháng vẫn bằng
một kế toán mới tốt nghiệp đại học, người ta có thể mua cùng một món đồ với
giá chênh lệch nhau đến cả chục lần mà không hề áy náy.

Có nhiều nữa, nhiều thứ nữa ở Sài Gòn mà tôi muốn viết mà vẫn không viết
được, tôi xin kết bằng một câu chuyện nhỏ, của tôi.

<http://2.bp.blogspot.com/-25dGmKvTnmU/TlMZgdA7phI/AAAAAAAACaI/K8IJ-lHnrdY/s1600/DSC02679.jpg>
Công việc đầu tiên mà tôi làm để sinh nhai ở đất Sài Gòn này là làm bốc xếp
ở cảng. Một bữa tối nọ, chừng hơn mười giờ, trời mưa lớn, tôi đạp xe từ cảng
về sau ca làm. Đói, lạnh và mệt làm tôi lả đi, tôi tấp đại xe đạp vào một
mái hiên và ngồi bệt xuống, ngủ thiếp đi.

Đột nhiên tôi chợt thức vì tiếng cửa sắt kéo ra, một người phụ nữ mở cửa và
hỏi thăm tôi bằng giọng nam bộ rất phúc hậu. Bà mở rộng cánh cửa cho tôi
vào, bà đưa cho tôi một cái áo để thay và chỉ ít phút sau, bà lại xuất hiện
với một tô mì gói nghi ngút khói, có cả mấy cọng ngò. Bà chỉ nói gọn: “Ăn
dzô là phẻ liền hà”. Mà thiệt tình, ăn hết tô mì tự nhiên tôi thấy “phẻ”
quá, có lẽ vì từ đó, tôi không nghĩ mình có thể sống ở đâu tốt hơn mảnh đất
này. Tôi “phẻ” luôn từ đó đến giờ.

Tôi chịu không thể nhớ căn nhà ấy, nó nằm đâu đó trên đường Lý Chính Thắng.
Tôi cũng chịu, không nhớ nổi gương mặt người đàn bà ấy, như mọi người đàn bà
ở thành phố này. Bạn đừng nói tôi vô ơn.

Ở Sài Gòn, nói chuyện đó chỉ nhận được một cái khoát tay và câu trả lời trớt
quớt: “Bỏ đi. Ơn nghĩa gì cậu ơi!”.

Rồi tôi cũng giúp một người khác như thế, rồi tôi cũng nói giọng Sài Gòn,
tôi cũng khoát tay khi người ta cảm ơn: “Bỏ đi. Ơn nghĩa gì cậu ơi!”.

Sài Gòn là một mảnh đất lạ kỳ. Nó lạ kỳ đến nỗi người ta nhớ về nó khi đang
ở trong lòng nó. Vậy đó!.

*Đàm Hà Phú*

CHỒNG TÔI

>Thực sự càng vào tuổi già chàng càng “ ngớ ngẫn” và hay quên. Ngày
>xưa khi chàng còn trai trẻ thì có lẽ có “hạnh kiểm” hơn trong những
>ngày tháng muộn màng. Thưở ấy (dưới mắt chàng) tôi có một dáng dấp
>không đến nỗi tệ. Bây giờ chàng đã quên mất cô vợ ngày ấy; thay vào
>đó là những cái nhìn ngẩn, nhìn ngơ cho những cô gái chân dài bất tận,
>không liên hệ chi với chàng, mà còn khen rối rít,“con nhỏ đó có cặp
>giò ngon dễ sợ!” hoac” Co ta co bo nguc nui lua”. Đi ngoài đường thấy gái
đẹp thì chàng quên bẳng là
>đang đi với vợ
mà tưởng rằng tôi là thằng bạn nối khố của chàng,
>“ Trời! Trời! Ngó cái mông thiệt đã!” Có khi tôi đã thấy chàng nhìn
>chăm chăm mấy cô gái phô bày cặp ngực, khêu gợi, căng đầy nhựa sống;
>rồi chàng nhìn theo trong kính chiếu hậu tiếc ngẩn tiếc ngơ; tôi cũng
>đoán được chàng đang suy nghĩ gì!
>
>
>Có phải ông cha ta đã nói: “Gìa thì phải nên nết”. Hình như đây chỉ
>là một giả thuyết? “Cụ” nhà tôi bây giờ còn “tinh nghịch” hơn
>xưa. Cụ đã cùng với những cụ khác dấu diếm gởi cho nhau những tấm
>hình táo bạo, những khúc phim “đặc sắc” để chiêm ngưỡng, rồi
>cười đùa khoái trá như những cậu học sinh trung học ngỗ ngáo. Nếu bị
>phát giác thì cụ lại chối leo lẻo “No, I’m a good guy!” Mỗi lần có
hình
>khỏa thân hấp dẫn hay phim “nghèo” là trong làng bằng hữu của chồng
>tôi thật nhộn nhịp, rộn ràng:- Mày cho tao xin phim này đi. Mày upload lên
>megaupload thì rất thuận tiện vì tao có premium account với thằng này. Ngay
>cả những anh thường hơi thẹn thùng trong chuyện đóng góp và tán dóc cũng
>trồi lên, “Thằng …….trồi lên chỉ khi nào nó ngửi thấy mùi : dâm ,
>vú…. Tôi còn nhớ khi cụ nhà tôi gởi tựa đề của cuốn sách 365 sex
>positions lên mail group của cụ thì gần như suốt một tuần các cụ đã
>tranh cãi và thảo luận sôi nổi về đề tài nầy còn hơn những bài luận
>văn chính trị cuối mùa văn hóa hồi các cụ còn mài đũng quần ở Đà
>lạt! Chưa đủ, có cụ còn chôm nguyên cuốn sách trình làng với đầy đủ
>hình ảnh chi tiết.
Có cụ còn muốn vớt vát cho cái lém lĩnh của mình
>bằng sự trấn an của khoa học:- Nói có sách, mách có chứng. Mỗi ngày
>chỉ cần 10 phút coi hình thiếu vải thì hạ huyết áp, tránh được bệnh
>tim. Bí quyết sống lâu đây rồi, mỗi ngày chỉ 10 phút thôi, không phải
>tin đồn bậy bạ mà có nghiên cứu đàng hoàng. Đã có gan coi hình tươi
>mát mà còn sợ “thượng mã phong!”
>
>
>Đàn ông, theo y học chứng minh-đầu óc của họ lúc nào cũng đầy dẫy
>chuyện gió trăng và hơi hám đàn bà lúc nào cũng vương vấn trong những
>cuộc đối thoại. Không sai tí nào! Khi chồng tôi dự định mua máy hình,
>anh hỏi loại máy hình gì tốt, đẹp và bền, thì ngay lập tức các đồng
>môn của anh xúm lại khuyên bảo :-Nhu cầu của mỗi người khác nhau, vấn
>đề
là mình phải biết nhu cầu của mình là gì thì mới chọn lựa được
>sản phẩm thích hợp. Có người thích em trắng, kẻ thích em đen, người
>chuộng da rám nắng, kẻ thích vú bự, người mê ăn quýt. Tùy theo khẩu vị
>mà chọn hàng. Nhưng nói gì thì nói họ vẫn thuộc làu câu ca dao tục ngữ
>gối đầu giường “Ta về ta tắm ao ta…” Rồi lại phụ đề thêm Việt
>Ngữ:Cái này là nói mấy em chân dài, nói phở thôi. Cơm nhà dù sao vẫn
>chắc bụng, no lâu. Phở dĩ nhiên, nấu vừa mất thời gian lại còn tốn
>kém nhưng anh nào cũng khoái “ăn vụng”. Điều nầy không phải không
>đáng sợ.
>
>Trên bảo dưới không nghe.” Đây là điều đáng quan tâm nhất của các
>đấng mày râu khi họ đến tuổi về già. Tôi thấy đức lang quân của tôi
>thường nhận
được những lời chia xẻ của bạn bè để làm thế nào mà
>“ trẻ mãi không già” Chưa đủ, họ còn truyền cho nhau những loại
>rượu, có khi luôn cả những thang thuốc truyền kỳ để cùng tìm hiểu bí
>quyết về huyền sử ái ân. Khi có dịp gặp nhau thì lại thì thầm, mách
>nước xem thử kết quả có ly“kỳ như họ nghĩ hay không. Lạ lùng thay tôi
>chưa nghe anh nào thật sự thố lộ là những chung rượu thần kỳ và các
>liều thuốc nổi danh lịch sử đã làm cho họ cải lão hoàn đồng! Đức
>lang quân của tôi cũng đã dại khờ, liều mạng tu gần nữachai rượu của
>một người bạn quý cho anh để đi tìm kết quả. Nhưng chàng đã quên mất
>rằng hai anh em, thằng lớn, thằng nhỏ, cùng một tuổi thì thuốc tiên,
>phép lạ cũng phải bó
tay.
>
>
>Chồng tôi có một đặc điểm là biết “vâng lời” vợ. Một phần là
>nhờ anh ở phương tây khá lâu nên không ít thì nhiều anh cũng có tiêm
>nhiễm về nếp sống văn minh nơi xứ người. Kỷ niệm ngày cưới, sinh
>nhật hoặc ngày của tình yêu mà quên là anh “lãnh nợ”. Để tránh khỏi
>mua quà tầm bậy anh thường cẩn thận hỏi trước (thà mất lòng trước
>được lòng sau!) , “ Em thích qùa gì cho sinh nhật của em?”. Tiền đâu anh
>mua hột xoàn, kim cương; tiền đâu anh mua xe hơi, nhà lầu hay những món quà
>đắt giá! Nhưng dại gì mà nói, anh phải tự suy nghĩ để đem lại sự
>ngạc nhiên vui thích cho mình- “Không cần đâu anh!Em đâu thiếu gì!” Ông
>chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, cứ thế mà làm theo, chẳng quà cáp gì ráo.
>Tưởng vâng
lời như thế thì được điểm tốt, nhưng chiến tranh lạnh
>đã xảy ra. Anh lại ngây thơ thăm hỏi, “ Sao em lạnh lùng như băng giá?”
>Khi chiến tranh bùng nổ thì anh trả lời “ Em nói em không cần gì hết mà
>tại sao bây giờ không vui! Em nói sao thì anh nghe vậy có gì mà hờn giận,
>trách móc………?.
>
>Nếu cho rằng anh là một ông chồng “lý tưởng”- nghĩa là: đẹp trai,
>vạm vỡ, hào hoa, phong nhã, đa tình, lãng mạng thì có lẽ anh sẽ được
>chấm hạng dưới trung bình; cũng có thể gọi là hạng chót! Nhưng anh là
>một người thật thà. Ngày xưa anh yêu tôi vì tôi có mái tóc thật dài,
>xõa ngang lưng, thơm mùi quyến rũ. Ngày hôm nay tôi càng cố gìn giữ bao
>nhiêu, thì hàng chục sợi tóc đáng thương cứ cuốn theo chiều gió mà bay
>mãi. Chải tóc
cho tóc mượt thì chỉ thấy nền nhà phủ đầy những sợi
>tóc khô khan của tuổi đời. Anh bây giờ không còn vuốt tóc tôi như ngày
>xưa mà còn bảo: “ tóc em sao rụng quá cỡ vậy? Vài năm nữa không đội
>tóc giả thì cũng thành ni cô!Nghe mà nóng gà, muốn nổi tam bành lục tặc.
>
>
>Một điểm đặc biệt và “đáng yêu” của chồng tôi là anh rất thẳng
>thắng phải nói rằng- “toạc móng heo”. Tôi có một cái tính là thích ăn
>mặt hơi hở hang, có lẽ cũng muốn níu kéo một tí gì trước khi xã hội
>xếp mình vào dĩ vãng. Nhưng khi mặc áo đầm , váy ngắn hoặc áo cổ rộng
>tròn phơi bày thì sẽ được anh thẳng thắn khuyên nhủ:- “ Em mặc như
>vậy có ngày trúng gió bất tử.” Anh làm tôi cụt hứng-tưởng rằng ăn
>mặc mát mẻ sẽ làm anh gợi
cảm và nhìn tôi như những đàn bà trẻ đẹp
>khác. Thiệt chán còn hơn ăn cơm nếp nát.
>
>
>Về nghệ thuật, chồng tôi có một cái nhìn rất khác người. Khi đi mua
>sắm, tôi thường “mời” anh đi theo, trước thì để xách đồ, sau là
>làm “cố vấn thời trang”. Có lẽ là vì được nhờ nên anh đóng góp ý
>kiến rất nhiệt tình. Áo quần hơi có bông ba màu sắc thì anh bảo “sao
>không mua thêm vài cái lư hương lập miếu lên đồng cho đủ bộ”. Khi mua
>nịt da bảng bự cho hợp thời trang thì anh đến bên tôi nói nhỏ “anh
>thấy tiệm kia bán nịt còn cho thêm cái khiên, cây kiếm và đôi sandal. Em
>mua để đóng phim Gladiators coi được lắm”. Còn mua quần nhiều túi thì
>anh chêm vào: “ Được đó! Mua cái quần này thì đi chợ khỏi cần
>trolley”.
Tức muốn chết người.
>
>
>Đủ thói hư tật xấu, mất nết thiếu hạnh kiểm nhưng tôi biết rằng anh
>chỉ vui rôm rả với bạn bè. Có lẽ nhờ vậy mà lúc nào tôi thấy anh và
>các bạn vẫn luôn luôn trẻ mãi. Dù sáu hay bảy bó, không là chuyện lớn.
>Ngày nào anh và các bạn còn nhìn được hình tươi mát; ngày nào mắt còn
>rõ để phân biệt được bầu, mướp cam, bưởi thì không thể gọi là
>già; ngày nào còn xách đồ được cho vợ, còn hơi để làm “cố vấn
>thời trang” là ngày đó còn hạnh phúc. Ra đường nhìn gái còn khen là
>đầu óc còn sáng suốt (khi nào nhìn đàn ông thành đàn bà thì tôi mới
>run). Sự sống trên trái đất này sẽ không tồn tại nếu không có những
>người như chồng tôi và bạn bè của anh./.

D.N. Ánh

XE ĐÒ HOÀNG Ở CALIFORNIA

Chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Cộng Sản đâm đổ hàng rào Dinh Độc Lập
của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 30-04-1975 đánh dấu sự chấm dứt của
cuộc chiến Nam Bắc, nhưng nó cũng bắt đầu cuộc phiêu lưu của 135,000 người
Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ. Là quốc gia đã có bao kinh nghiệm đối phó với vấn
đề tỵ nạn của người Âu Châu sang Mỹ vào Đệ Nhất Thế Chiến và Đệ Nhị Thế
Chiến, Tổng Thống Gerald Ford đã vạch sẵn chính sách đón nhận người Việt tỵ
nạn: phân tán tất cả mọi người trên năm mươi tiểu bang trên nước Mỹ.

Chính sách phân tán này thực hiện được bốn điểm chính:
1.     Tái định cư người tỵ nạn một cách nhanh chóng để họ có thể tự túc dễ
dàng sau này.
2.     Tránh được một số đông người tỵ nạn tập trung vào chỉ một thành phố
làm tỷ lệ thất nghiệp của thành phố đó sẽ gia tăng vì không đủ công việc.
3.     Tìm người bảo trợ dễ dàng hơn trong việc hoà đồng người tỵ nạn vào
đời sống nước Mỹ.
4.     Tránh được một khu đông dân cư nghèo đói mà dân vùng đó toàn là người
đến cùng một quốc gia.

Thế nhưng mình có câu “Tổng Thống Mỹ tính không bằng dân An Nam Mít tính”.
Vì lý do thời tiết và vì muốn sinh sống nơi đông dân cư,  dân Việt Nam từ
khắp mọi nơi dồn về ba tiểu bang Florida, Texas, và nhiều nhất, California.
Năm 1975 số người Việt tỵ nạn ở California chỉ là 20% tổng số dân tỵ nạn.
Đến năm 1980 con số đó nhẩy vọt lên 35%, và cho đến năm nay, khi những gia
đình làng xóm của tôi ở chợ Bàn Cờ là ông Phó Bạc, bà Tư Rỗ, ông Trọng bán
tem, chú Tám Tôm Càng, chị Bá bán bar dọn về Santa Ana ở đông với nhau cho
vui thì tỷ lệ người Việt Nam ở California bây giờ đã tăng lên một triệu phần
trăm. Buổi  chiều nấu cơm có thiếu trứng gà thì qua nhà kế bên gõ cửa chị Ba
làm nail mượn đỡ hai trứng , khỏi cần ra siêu thị mua.

Người Việt Nam ở California có rất nhiều sự việc tiện ích mà người Việt ở
các tiểu bang khác không có: thức ăn Việt Nam (không thua Sàigòn, gì cũng có
từ cốm dẹp đến bánh tầm bì), chương trình ca nhạc Việt Nam (có thể đi xem
Tuấn Vũ hay Chế Linh mút chỉ), khách sạn Việt Nam (room service gọi một bát
phở thay vì món steak chán ngấy, cable TV xem cải lương thay vì CNN), vũ
trường, người dậy lái xe bằng tiếng Việt Nam (dành riêng cho mấy người ở Mỹ
hai mươi năm nói tiếng Anh vẫn không được sõi), đưa đón phi trường, tuyên
thệ công dân tài xế là người Việt Nam, và cuối cùng điểm quan trọng nhất: di
chuyển từ thành phố này sang thành phố khác bằng xe đò do người Việt Nam làm
chủ.

Phương tiện giao thông công cộng chính yếu nối liền các thành phố ở nước Mỹ
là xe bus, xe lửa, và máy bay. Hầu như thành phố nào nhỏ đến đâu đi nữa cũng
đều có phi trường nên người Mỹ đi máy bay như đi taxi . Đi xe bus hay xe lửa
rẻ hơn không là bao nhiêu mà lại tốn nhiều  thì giờ nên số người đi xe bus
và xe lửa càng ngày càng ít. Càng ít người đi mà luật lệ chính phủ ấn định
bắt buộc chạy những lộ trình đông người lẫn lộ trình ít người, xe bus và
nhất là xe lửa do đó luôn luôn lỗ lã. Xe lửa ở nước Mỹ do chính phủ làm chủ
nên hàng năm quốc hội phải trích ngân quỹ  bao thầu phần thiếu hụt. Trong
khi đó, xe bus Greyhound của Mỹ sau mấy năm lỗ lã liên tiếp đã phải bán cho
một công ty của Tô-Cách-Lan vào tháng Hai năm 2007.

Xe bus trên nước Mỹ chỉ có người nghèo đi nên thường xẩy ra trộm cướp gần
khu vực trạm xe bus. Không biết hành khách ngồi bên cạnh mình gia cảnh như
thế nào nên đi xe bus Mỹ không cảm thấy an toàn. Một trường hợp ghê rợn xẩy
ra trên chuyến xe bus Greyhound ngày 30-07-2008 đi từ   Edmonton đến
Winnipeg: một người Trung Hoa ngọai kiều được phép nhập cảnh vào Canada tên
Vincent Li khai với nhà cầm quyền là trong lúc đi xe bus, trong đầu anh ta
nghe tiếng gọi của Thượng Đế là phải giết tên quỷ sứ ngồi kế bên cạnh, anh
Tim McLean người Gia Nã Đại, 22 tuổi, làm trong ngành hát xiệc. Vincent Li
rút ra một con dao đâm liên tiếp vào Tim khi Tim đang say ngủ, cắt đầu Tim,
móc mắt, mổ bụng lấy ruột tim ra, một phần bỏ vào giỏ giữ lại, một phần đem
ra ăn ngon lành. Tháng 3 năm 2009, thẩm phán của thành phố Queen, Winnipeg
xử Vincent Li không có tội vì lý do…điên! Thay vì đi tù thì Tòa xử giam
Vincent Li ở nhà thương trị bệnh tâm thần.

Số hành khách đi xe bus trên nước Mỹ do đó tương đối ít. Làm chủ xe bus trên
nước Mỹ như làm chủ một trạm điện thoại công cộng giữa thời đại dân chúng
dùng cellular phone, ấy thế mà xe đò Hoàng ở California, thiết lập từ năm
1999, thành công vẻ vang đến nỗi bây giờ có những hãng khác nhẩy vào bắt
chước.

Nhận thức được nhu cầu giao thông giữa hai vùng thành phố đông người Việt
Nam cư ngụ nhiều nhất trên nước Mỹ: San Jose ở Bắc California và Los
Angeles, Orange County ở miền Nam California, anh Hoàng sáng lập ra tuyến xe
đò, trong những năm đầu tiên dùng xe van Mỹ cỡ lớn. Bây giờ mười năm sau cái
xe van nhỏ đó đã được thay thế bằng xe bus du lịch khổng lồ 55 chỗ ngồi, có
restroom trên xe và thậm chí có cả WiFi internet! Xe từ miền Nam California
khởi hành từ bãi đậu xe của siêu thị ABC góc đường Bolsa và Magnolia, chạy
đến khu El Monte, Chinatown đón thêm khách rồi trực chỉ bánh mì Lee’s
Sandwich ở San Jose, Oakland, và cuối cùng ngừng ở McDonald’s trên đường Van
Ness ở San Francisco.

Khi nói đến đi xe đò, người Việt Nam nào cũng hình dung được chỗ khởi điểm:
bao nhiêu là xe đò đậu song song với chữ in sơn to tên thành phố đi và đến,
người ngợm tấp nập, kèn xe inh ỏi, hành lý đầy mui, tiếng người lơ xe gọi
khách ơi ới, dân chúng tranh nhau mua vé, hành khách lũ lượt tay xách vai
đeo, giai nhân xinh đẹp như Thẩm Thúy Hằng. Xin lỗi tôi viết nhầm. Giai nhân
xinh đẹp chỉ thấy ở trạm Hàng Không Việt Nam chứ đời nào mà gặp ở Xa Cảng
Miền Tây hay miền Đông. Một người mang những hình ảnh đó đến trạm xe đò
Hoàng dừng ở chợ  ABC trên đường Bolsa với hy vọng xem trạm xe bên Mỹ giống
như ở SàiGòn thì sẽ thất vọng lớn: thứ nhất là mỗi ngày chỉ có một chuyến,
và thứ hai nếu không chủ tâm để ý thì sẽ chẳng biết đó là xe đò đợi khách vì
bãi đậu xe của siêu thị bên Mỹ rộng mênh mông bát ngát. Dù cái xe bus có to
lớn đến đâu cũng tiệp vào với các xe khác trong bãi đậu, trừ khi mình đến
gần thấy chữ Xe Đò Hoàng sơn bên hông xe.

Hành khách đi xe đò Hoàng đến từ đủ loại tầng lớp: người Việt du khách ở nơi
khác đến California, người ở Santa Ana nhưng có việc làm ở San Jose, mẹ đi
thăm con học ở UC Irvine hay Standford, bố mẹ đi thăm con, cụ già tám mươi
đi thăm bồ nhí sáu mươi lăm mới quen nhau chỉ được vài ba tháng. Không một
ai phải cần bỏ tiền mua vé trước (họ thu tiền trên xe), nhưng nếu gọi đặt
chỗ trước thì ưu tiên hơn  người không giữ chỗ, cho dù người ấy là một cô
chuyển bụng sắp sửa sinh trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Từ Westminster đi San
Jose giờ khởi hành là 9:45 sáng, đến San Jose lúc 4:15 chiều. Quãng thời
gian đi khá dài, hành khách nếu không ăn e rằng sẽ có người xanh máu mặt
viếng thăm nhị tỳ bất đắc kỳ tử, phiền lòng tài xế phải ghé vào Tô Bia không
dự định trễ giờ cả chuyến xe nên trước khi xe lăn bánh, chú tài xế đến phân
phát cho từng người thực phẩm hiến tặng từ Hội Hồng Thập Tự Liên Hiệp Quốc:
một ổ bánh mì thịt, một chai nước uống và một đĩa thạch nhỏ. Xe đò có thể
thua máy bay vì thời gian đi quá lâu, thế nhưng so sánh với máy bay nội địa
ngồi máy bay lâu méo cả mặt sưng cả mông, hành khách không được cho ăn, muốn
ăn phải bỏ tiền túi ra mua thì xe đò Hoàng bứt xa máy bay nội địa Mỹ việc
cho không bánh mì thịt nguội này.

Những ai không thích xem DVD nhạc Việt Nam thì chớ nên đi xe Hoàng vì khi xe
vừa mới khởi hành là màn ảnh TV bắt đầu chiếu Thúy Nga Paris liên tục từ số
1 đến số 150 cho tới khi xe đến San Jose.  Tôi để ý vợ tôi ở nhà xem Paris
By Night một mình thì khung cảnh yên lặng, nhưng một khi có mấy chị em họp
nhau lại xem cùng một lúc thì khung cảnh náo nhiệt hẳn lên với lời bàn tán
ra vào. Cả cái xe bus là một rạp hát di động với khán giả hành khách rất là
đắc ý bình phẩm cho nhau nghe lời bàn Đông Châu Liệt Quốc. Tất cả người trên
xe đều là chuyên gia ba mươi lăm năm kinh nghiệm biết ngay tên tuổi ca sĩ và
tên bản nhạc, từ bài “Cô Thắm Về Làng” đến bài “Máu Nhuộm trước Sân Chùa”,
hay “Quần Ai Treo Trước Ngõ”:

-Cái cô Diễm Liên này hát thật là điêu luyện…
-Tui thấy một bài nhạc mà cho hai ca sĩ thế hệ cũ và thế hệ mới hát chung
quá hay…
- Cô này ngày xưa ngực nhỏ sao bây giờ bự quá vậy trời?…

Tôi biết một cô Việt Nam có một anh bồ người Mỹ, rủ anh ta đi chơi Tijuana,
Mexico bằng xe bus từ Los Angeles do người Việt Nam tổ chức. Trên chuyến xe
chỉ có một mình anh ta là Mỹ Trắng, lên xe phát khúc bánh mì Việt Nam anh ta
còn ăn được thế nhưng ba tiếng đồng hồ ngồi nghe Paris By Night, đã mấy lần
anh ta định mở cửa sổ nhẩy ra ngoài tự tử vì vừa phải nghe lời bàn tán của
hành khách, vừa phải nghe cái tiếng nhạc rên rỉ Việt Nam không thua gì người
mình lắng nghe nhạc Ấn Độ cà răng căng tai làm anh ta chỉ muốn kết liễu cuộc
đời thay vì để lỗ tai bị tra tấn. Sau chuyến du lịch Mexico ghê rợn còn hơn
chuyến tầu hoả Thống Nhất từ SàiGòn đi Hà Nội, mối tình ấy những tưởng đã
phải un point final nhưng nhờ cả hai đi therapy mà cuộc tình được cứu vãn.

Nhiều người  vì thấy giá tiền quá rẻ, du lịch bằng xe bus do người Tầu tổ
chức đi San Francisco, Yosemite…, khi ngồi trên xe bus mới khám phá ra một
sự thật chết người mà những người bán tour cho mình không đề cập đến:  tài
xế loan báo là toilette trên xe bus không được dùng vì họ tiết kiệm tiền lau
chùi. Người nào cần làm công việc vệ sinh thì xin học cấp tốc môn yoga, vận
hai trăm thành công lực án binh bất động chờ xe bus ngừng ở trạm nghỉ
McDonald’s kế tiếp. Nhân viên ở McDonald’s phụ trách việc lau chùi restroom
được trả lương tối thiểu $7.50 một giờ hôm đó bỗng nhiên khám phá ra phải
lau restroom sau khi hơn 50 người dùng. Có chửi thầm trong bụng đến bao
nhiêu cũng không biết là cái dịch vụ restroom McDonald’s đó thuộc vào một
phần của tour bus người Tầu mà McDonald’s không bao giờ hay biết. Xe đò
Hoàng thì ngược lại, toilette trên xe khách được dùng thoải mái không hạn
chế. Khách được tự do sử dụng nên nhiều lúc cũng không dùng toilette vì
chương trình nhạc quá hay, nín thở ngồi xem quên luôn việc phế thải.

Mấy năm trước em vợ tôi ở San Jose xuống chơi. Nó đã đặt chỗ xe đò cho
chuyến về nhưng buổi sáng hôm về nó còn cố kỳ kèo nán lại đi ăn điểm tâm với
bạn bè nên trễ chuyến khởi hành từ Chinatown Los Angeles.  Nó ở nhà tôi là
phía Bắc Los Angeles, xe chạy từ Chinatown L.A. về San Jose phải qua hướng
nhà tôi. Từ Chinatown đến nhà tôi mất khoảng 35 phút. Gia đình ai cũng rầu
rĩ cho nó mất một ngày đi làm vì phải lấy chuyến xe hôm sau thì nó nghĩ ra ý
gọi số điện thoại của xe đò Hoàng xin số điện thoại tay của anh tài xế. Có
được số phone, nó gọi cho anh tài xế, hỏi anh ta đang lái ở đâu. Anh tài xế
đồng ý với nó một chỗ hẹn trên freeway 5 rồi tôi hối hả chở nó đi, bắt kịp
xe đò vừa mới đến đúng chỗ hẹn trên freeway, ngừng lại giữa đường để cho nó
leo lên. Phục vụ khách hàng như thế thì bảo đảm ít có công ty nào sánh bằng!

Ngoài dịch vụ chở khách hàng, xe đò còn nhận chuyên chở hàng hoá lặt vặt. Ba
năm trước, cậu con trai cháu vợ tôi ở Paris từ San Jose về nhà chúng tôi để
hai ngày sau bay về Pháp từ Los Angeles. Nó bỏ quên cái laptop. Em trai vợ
tôi ở San Jose đem cái laptop ra xe đò Hoàng. Anh ta cho tôi biết giờ xe đến
ở Bolsa để tôi ra lấy. Tôi đến thì không thấy xe ở đâu hết. Ngồi trong xe
đợi mười phút thì điện thoại cầm tay reo:

-Dạ tui muốn nói chuyện với anh Ngọc.
-Tôi là Ngọc đây anh.
-Tui là xe đò Hoàng anh ơi. Xe đến rồi, anh có cái laptop, nhờ anh ra lấy.
-Đến rồi sao anh? Xe đậu ở đâu?
-Ở trước chợ ABC.
-Anh nói chợ ABC nào, góc Bolsa & Magnolia?
-Đúng rồi.
-Tôi đang đậu xe chờ trước chợ ABC ngay đây mà tôi đâu có thấy xe đò nào
đâu?
-Anh đậu ở đâu? Ngay chỗ cây xăng đó anh.
-Thì tôi đang đậu ngay chỗ cây xăng…

Vừa nói tôi vừa bước ra xe ngó dáo dác. Cái xe đò to chình ình không thể nào
không thấy mà tôi không thấy bóng dáng nó ở đâu. Đang thắc mắc ghê gớm thì
tôi thấy cách tôi chỉ chừng hai mươi  thước, quay lưng lại phía tôi là một
anh Việt Nam trẻ, tay cầm cell phone gác tai, dưới chân là vài món đồ đạc.
Tôi tiến đến, giới thiệu tôi là Ngọc. Anh ta đưa cho tôi cái laptop, nói là
xe hôm nay đến sớm, anh ta đứng ở đây chờ mọi người đến nhận hết đồ xong thì
anh ta về. Gửi một cái laptop bằng Federal Express hay UPS overnight, giá
chắc có lẽ vào khoảng $40, $50 mà mình còn phải bỏ vào thùng đóng cẩn thận,
viết hoá đơn tên địa chỉ người nhận gửi rõ ràng. Ấy vậy mà món hàng chỉ đến
ngày hôm sau. Ở đây gửi buổi sáng buổi chiều đã nhận được, không cần giấy tờ
phiền phức mà chỉ tốn có năm dollars. Only in America!

Không phải chỉ riêng người tỵ nạn Việt Nam, mà để đối phó với tất cả các
người tỵ nạn khác như Do Thái, Ba Lan, Lithuania, Ý Đại Lợi… khi gia nhập
vào nước Mỹ, chính phủ Mỹ luôn áp dụng chính sách trải đều mọi người trên
khắp toàn quốc. Người Việt tỵ nạn đã chứng minh cho thấy chính sách này thất
bại một phần nào vì đa số cuối cùng cũng tập trung vào một chỗ họ thích sinh
sống  như California. Hèn gì  mà bất kỳ Tổng Thống Mỹ nào, Dân Chủ hay Cộng
Hoà, sau nhiệm kỳ bốn năm là mái tóc nâu trở nên bạc trắng, già đi hơn hai
mươi tuổi vì nhức đầu với chuyện tưởng đã được giải quyết, phân tán người
Việt Nam tỵ nạn trên nước Mỹ, nhưng không ngờ Xe đò Hoàng đơn thân độc mã
mỗi ngày một chuyến kéo hai thành phố đông dân cư Việt Nam lại càng gần với
nhau hơn nữa.
Nguyễn Tài Ngọc

(Source: Tinh Nghe Si forum)